|
Để thực hiện công việc cung cấp nguồn nước sạch, anh Lê văn Diêu đưa Diệu Liên đến tận làng An Bình khảo sát tình trạng nước dùng và đời sống dân làng tại đây. Ngay từ đầu làng, chỉ sau khi kiểm tra vài hệ thống nước đầu tiên, chúng tôi kinh ngạc khi thấy những ứ đọng của chất phèn bên dưới những ảng nước ở một mức báo động, và theo một số dân làng tâm sự, đây là nguyên nhân chính đưa đến tình trạng bệnh hoạn, nhất là ung thư. Qua lời chị Ái Liên, làm việc tại đài truyền hình Quảng Trị, cho chúng tôi biết, báo chí và truyền hình đã đưa vấn đề đến với mọi người trên 10 năm qua. Có một số tổ chức quan tâm, đến tận làng tham khảo, nhưng đã không trở lại để giúp dân làng giải quyết vấn đề nghiêm trọng nầy.
Tổ chức bất vụ lợi “ Plan ” đã tài trợ xây bể lọc nước cho hầu hết các hộ nghèo trong làng. Nhà nào cũng đào giếng với hệ thống máy bơm chuyển nước vào bồn lọc. Bồn lọc được làm nhiều lớp: đá, sỏi, cát và bao nilong. Anh Nguyễn Tiến Lợi và anh Nguyễn Viết, đại diên dân làng An Bình, đưa anh Diêu và Diệu Liên đi thăm từng gia đình, giải thích tường tận mọi vấn đề khó khăn của đồng bào tại đây. Từ bồn lọc nước, các anh bốc lên những nắm phèn cho mọi người xem, toàn là những chất kim loại rất nhỏ có sẳn trong nước giếng, chảy vào bồn lọc. Sau khi lọc xong, nước được chảy xuống một bể nhỏ thấp hơn, là nơi chứa nước cho mọi sinh hoạt của gia đình. Nhiều gia đình, vì nguồn nước quá ô nhiễm phải đẩy xe đi vài cây số để mua từng thùng nước 20 lít về dùng cho việc ăn uống hằng ngày. Dân làng cho chúng tôi thấy những bao nilông, những chiếc thau nhôm, những chiếc ly thủy tinh uống nước, sau một thời gian dùng đã đổi từ màu trắng sang màu vàng của phèn. Một bà cụ kéo tay chúng tôi chỉ vào nền nhà sân trước mới xây, cho biết sau vài lần tát nước lên để chùi, bây giờ đã thành màu vàng ngà.
Tác hại sâu xa của nguồn nước độc không đơn giản, đưa nhiều gia đình đi đến bế tắc. Dân tại đây cơ cực là vì đa số mang bệnh hiểm nghèo. Nhiều cặp vợ chồng trẻ mất sức lao động với những đứa con nhỏ suy dinh dưỡng. Anh Diêu phát hiện những gói thuốc chửa trị nhiều căn bệnh, nằm đó đây trong các căn nhà rách nát, tiền không có để ăn nhưng không thể không có thuốc uống khi cơn bệnh hành hạ. Những người khoẻ mạnh đã bỏ quê vào Nam làm thuê khiếm tiền trả nợ sau nhiều năm vụ mùa thất thu.
Đi một vòng quanh làng, chúng tôi được trò chuyện cùng một số cụ già neo đơn, tự nuôi sống bằng cách mót rau trong vườn ra chợ bán, lợi tức mỗi ngày khoản 5,000 đến 7,000 vnd (5 cents us). Các cụ nuôi con khôn lớn, nhưng các con đã phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn vào Nam làm thuê. Với số lương đủ sống, nhiền năm liền các anh chị không về quê thăm bố mẹ già, thậm chí có nhiều người không về được để lo mai táng khi cha mẹ qua đời. Sau lần thăm hỏi hoàn cảnh vài cụ già, chúng tôi đã khởi ý niệm tặng quà cứu trợ bão Xangsame, đặc biệt đến các cụ, đã phải lủi thủi sống một mình lúc tuổi già bóng xế.
Em Nguyễn Thị Tư, 15 tuổi, bố mất sớm do tai nạn lao động, để lại Mẹ một mình tiếp tục còng lưng trên thửa ruộng nuôi sống hai mẹ con. Năm nay, do trận bảo Xangsane, kéo theo mưa nhiều gây lũ lụt, cả làng bị mất mùa, Mẹ của Tư cũng không tránh khỏi. Mẹ đành phải bỏ đứa con duy nhất lại quê, gửi gấm cho ông bà ngoại và các cậu, lên đường vào Nam làm thuê cho một quán ăn. Tư cho biết mỗi tháng Mẹ làm được 600,000 vnd ( $40 Us ), gửi về cho em ăn học 100,000 vnd. Chúng tôi hỏi: “vì sao Mẹ làm 600,000 vnd và đã được cơm ăn chốn ở mà chỉ gửi về cho con 100,000 vnd ($6.50 us)”. Tư mĩm cười, trả lời một cách thẹn thùng: “Mẹ vay nợ hợp tác xã để mua lúa giống và phân bón, nhưng hai năm liền mất mùa, nên Mẹ đi làm xa để dồn tiền trả nợ”. Chúng tôi hỏi tiếp: “mỗi tháng em lấy thêm tiền đâu để bù cho việc ăn học của mình”. Tư đáp: “Mẹ dặn cắt chuối trong vườn ra chợ bán, hái rau trong vườn mà ăn, cuối tháng hết tiền thì qua nhà Ngoại và các cậu xin ăn cơm”.
Qua câu chuyện gia đình cháu Tư, khi trở lại trụ sở hợp tác xã, thấy các bao phân bón và lúa giống, chúng tôi đã đề nghị việc lập danh sách các gia đình nghèo, không có khả năng mua lúa giống và phân bón, sẽ được quỹ Xangsane tài trợ miễn phí để dân làng có điều kiện bắt tay vào công việc đồng án cho kịp vụ mùa năm nay. Tổng cộng có 77 gia đình nghèo được nhận sự tài trợ lúa giống và phân bón cho 231 sào ruộng với số tiền 130,000 vnd cho mỗi sào. Cũng qua hoàn cảnh của em Tư, chúng ta thực hiện chương trình học bổng cho các em hiếu học có hoàn cảnh khó khăn.
Thấy được nguồn gốc gây sự nghèo đói cho hiện tại và còn tiếp tục là một tác hại lớn trong tương lai, chúng tôi đã mạnh dạn nhờ đại diện dân làng An Bình, liên hệ với nhà máy nước tỉnh Quảng Trị, hợp tác thực hiện chương trình nước máy cho cả làng. Kết quả của lời đề nghị trên đưa đến một hợp đồng được ký giửa đôi bên. Nhà Máy Nước tỉnh Quãng Trị sẽ mở một đường ống dẫn nước đến đầu làng cho 159 hộ gia đình trong đợt I (đợt II sẽ tùy thuộc vào sự thành công của đợt I để có một giao kèo mới), sẽ hoàn tất vào tháng 6 năm 2007. Phần đưa nước vào nhà người dân sẽ được chúng ta giúp đở, chi phí là 2,000,000 vnd ($115 us) cho mỗi gia đình. Vì mức sống của dân làng có sự chênh lệch, chúng ta đã nhờ các Anh trong ban tổ chức nghiên cứu và thanh lọc kỷ lưỡng danh sách của những người nghèo được chọn để giúp đở. Trong đó có 40 gia đình đủ sức tự lo cho chính mình, 25 gia đình có khả năng đóng 1,500,000 vnd, 19 gia đình đóng 1,000,000 vnd, 29 gia đình đóng 500,000 vnd, và sẽ có 46 gia đình được cấp đường dẫn nước vào nhà miễn phí.
Ngày 23 tháng 1 năm 2007. Để cùng đồng bào An Bình có một cái Tết Bình An sau những ngày giông bão, quý Ni Sư Minh Bảo, Minh Tuệ, Hải Liên, Diệu Trì, Huệ Hạnh, Như Minh đã đại diện thầy Thích Tâm Hòa trù trì chùa Pháp Vân, thuộc thành phố Mississauga, người phát động chương trình cứu trợ Xangsane nầy, ra phát quà cho dân làng, mọi người hân hoan nhận những món quà Tết thân thương.
Sau hai lần họp mặt cùng với ban lãnh đạo chính quyền xã Cam Thanh, có mặt đông đủ anh em trong ban từ thiện Phật Giáo tỉnh Quảng trị và huyện Cam Lồ, chúng ta đã bằng lòng thực hiện 8 chương trình đóng góp cho đồng bào nghèo đang cư trú tại vùng chịu nhiều ảnh hưởng do thiên tai gây nên. Sau lời tuyên bố quyết định thực hiện, đặc biệt là quyết định đem nước máy vào những hộ nghèo, chúng ta đã gây một sự kinh ngạc và xúc động lớn cho tất cả các anh chị thuộc mọi ngành mọi giới trong buổi họp. Các anh cho biết rằng, những năm qua, nhiều đoàn thể từ thiện và chính quyền đã đến khảo sát, tìm hiểu rồi lên danh sách nhưng không ai trở lại; một lần các anh đi làm danh sách là một lần gây hy vọng rồi đưa ra nghi vấn xôn xao cho đồng bào trong nhiều ngày tháng. Lần nầy chúng ta vào, nhờ các anh đi làm danh sách, các anh lo ngại lắm. Các anh tâm sự: “nếu lấy danh sách rồi chúng tôi không trở lại sẽ tạo nghi ngờ cho dân làng, họ bảo chúng tôi nhận tiền tài trợ rồi chia nhau, nếu không lấy danh sách theo yêu cầu thì sợ mất cơ hội cho mọi người … “. Nguồn tin hội Phật giáo từ Canada đến tài trợ nguồn nước máy đã lan rộng khắp làng, người dân hân hoan và mong đợi ngày có nguồn nước sạch dẫn vào làng.
Tại làng An Bình chúng ta đã thực hiện những chương trình sau, với tổng chi phí là 235,230,000$ vnd = $16,810 Cad.
1) Tặng phân bón và lúa giống cho 44 gia đình, cho 236 mẫu ruộng, chi phí 30,680,000$ vnd.
2) Đúc 30 bi, mỗi cái 100,000$, vnd làm cống thoát nước cho 8 con đường lầy lội dẫn ra ruộng, sẽ thực hiện sau Tết Nguyên Đán, chi phí 3,000,000$ vnd.
3) Tặng quà cho 27 trẻ em khuyết tật, mỗi em từ 150,000$ vnd đến $200,000 vnd, chất độc Da Cam, bại não, động kinh, chi phí 4,550,000$ vnd.
4) Tặng quà cho 20 cụ già neo đơn, mỗi phần quà 200,000$ vnd, chi phí 4,000,000$ vnd.
5) Tặng học bổng cho 20 học sinh nghèo hiếu học, mỗi phần 400,000$ vnd, chi phí 8,000,000$ vnd.
6) Tặng 3 căn nhà tình thương, bị hư hại do bão gây nên, hai căn trị giá 8,000,000$ vnd mỗi căn, và 1 căn trị giá 5,000,000$ vnd, với sự hợp tác công thợ của gia đình và dân làng, chi phí 21,000,000$ vnd.
7) Làm hợp đồng dẫn nước máy với nhà máy nước Quảng Trị, đưa nước vào tận 159 nhà dân, chi phí 164,000,000$ vnd.
Đó là chi tiết của chương trình làng An Bình, Diệu Liên xin gởi đến quý ân nhân như một món quà nhỏ trong những ngày đầu Xuân. Kính, Tôn Nữ Diệu Liên Đầu Xuân 2007
|
|