![]() |
|||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Trở về nhà sau chuyến công tác từ thiện, chị Diệp Yến Bình và Diệu Liên chia sẽ niềm vui với những thành quả mới của Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời. Chị Yến Bình có một ngôi nhà nằm ngay trung tâm du lịch Hollywood - Florida, cách bờ biển Đại Tây Dương khoảng 20 bước chân. Diệu Liên được chị đưa về đây nghĩ ngơi, tắm biển, nghe nhạc sống, xem bà con khiêu vũ và ăn uống thâu đêm trên bãi biển. |
|
Sau khi dùng cơm xong, Ni Sư Minh Hiền thỉnh chuông cho đạo tràng chuẩn bị đi kinh hành. Các em nhỏ được đứng trước với những chiếc mõ và chiếc khánh trên tay. Ngày xưa, những chiếc mõ của các em chỉ là những cái gáo Dừa khô, các em được đi kinh hành quanh vườn Chè bằng tiếng gõ của vỏ Dừa, mộc mạc và dễ thương. Hôm nay các em đã được các chùa tặng những chiếc mõ nhỏ, âm thanh hòa nhịp rất thanh tịnh. Vì được sự hướng dẫn thuần thục của các Ni sư, các em và cả đạo tràng đi kinh hành quanh điện Phật rất nhịp điệu. Những bước chân của các em như có mang theo âm nhạc, hòa điệu với câu niệm Phật A Di Đà. Sau khi đi kinh hành xong, Ni Sư mời mọi người tập trung lại để được phát quà. Quà đặt vào một góc rạp, mỗi người sẽ được 10 kg gạo, 4 gói bột ngọt, 2 gói muối, 2 gói đường, 2 chai xì dầu, 1 thùng mì gói, bánh kẹo cho các em và 10,000 đồng. Khác với những nơi Diệu Liên đã phát quà trước đây, đạo tràng Pháp Hoa rất yên tĩnh, người được phát quà tập trung về rất hiền lành, không chen lấn. Họ từ tốn đứng vào hàng và từ tốn đến nhận quà một cách chân thật. Đó là nét quý giá mà Diệu Liên tìm thấy ở đây, sự nghèo khó mà có tu tập vẫn tạo được những nét đặc thù của nó. Trong buổi gặp gở đầu tiên, hai Ni sư với khuôn mặt mộc mạc và nụ cười niềm nở của người tu sĩ miền núi, đã cho Diệu Liên một cảm giác gần gủi như từng là đệ tử của chùa từ lâu. Ni sư Minh Hiền quê ở Tiền Giang, ni sư Huệ Đức quê ở Bạc Liêu; hai sư cùng độ tuổi gần 70. Quý Sư về đây từ năm 1970, lập chùa Pháp Hoa để cùng nhau tu tập và rồi do nhân duyên, đã cảm hoá được đồng bào dân tộc ở đây, ngôi chùa 2 chị em ẩn tu bây giờ đã có đến hàng trăm người đồng tu học. Hai ni sư đã nhiệt tình trả lời những câu hỏi của Diệu Liên, những câu hỏi có liên hệ đến sự tu học của đạo tràng Pháp Hoa, những công tác từ thiện của chùa cũng như những khó khăn của Chùa gặp phải. Diệu Liên cũng đã thưa chuyện với quý Sư về cô Tâm Hiền và được xác nhận rõ ràng là Cô đã về đây xin phát quà, quây phim như đã nói ở trên. Phật tử thực tập pháp môn Tịnh Độ tại đạo tràng chùa Pháp Hoa gồm có 4 bảng: bảng Klong-Trao có 82 gia đinh, bảng Di Linh Thượng có 29 gia đình, bảng Hàng Làng có 49 gia đình, và Liên Đầm có 1 gia đình. Số gia đình ở tại mỗi bảng nhiều hơn, nhưng trên đây là số gia đình đã thọ tam quy, ngũ giới và tham dự ngày thọ Bát Quan Trai mỗi tháng tại chùa. Sư cho biết ưu điểm của người dân tộc là mỗi kỳ tu học thì cả vợ chồng con cái lớn bé đều đi hết, đi tu là đi nguyên cả nhà . Tổng cộng có tất cả 161 gia đình với 292 nam và 385 nữ, trong đó có 241 học sinh từ mẫu giáo đến đại học. Có 4 em đang học ở cấp cao đẳng và đại học theo 3 ngành: Nông Lâm, Xã Hội Nhân Văn, Trung cấp Y . Trong 3 tháng an cư Kiết Hạ, mỗi tuần Ni sư tổ chức dạy giáo lý vào ngày thứ Bảy, và thọ Bát Quan Trai vào ngày Chủ Nhật, từ 7 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Chương trình nầy đã được nhóm cô Cúc ở thị trấn Đức Trọng cúng dường cơm trưa. Bữa cơm được chia ra làm từng mâm, mỗi mâm có 4 người, trung bình mỗi bữa ăn có từ 80 đến 100 mâm. Thức ăn quá khiêm tốn, mỗi phần từ 2000 đến 2500 vnd. (17cents US) Tổng chi phí 1,000,000 vnd ( $63 Usd ), gồm 100 kg gạo giá 500,000 vnd, và 500,000 vnd còn lại là tiền thức ăn cho 400 Phật tử. Sở dĩ chi phí cho thức ăn quá thấp là vì nhóm cô Cúc đã xin rau trái từ các bạn hàng ngoài chợ. Sư còn cho biết trong một năm có hai tháng 11 và 12, toàn bộ đồng bào ở đây sẽ tập trung vào việc đi hái cà phê thuê cho người ta, thời gian nầy không về chùa tu tập. Dù biết rõ chính xác đạo tràng Pháp Hoa ở Di Linh là hình ảnh chân thật đã được dựng trong phim của cô Tâm Hiền qua lời tâm sự của hai cô Minh Hiền và Huệ Đức, Diệu Liên và Minh vẫn tiếp tục tìm hiểu thêm về những công trình của cô Tâm Hiền ở đây, để đối chiếu với những sự giúp đở của bạn bè trong thời gian qua, cũng như tìm hiểu thêm cuộc sống của người dân tộc thiểu số, qua đó có thể làm được gì giúp đở họ. Buổi trưa nắng cháy, hai anh Thiện Hải và Thiện Phẩm, người dân tộc, đưa chúng tôi đi khắp vùng để thị sát. Ở đây gần thành phố nên cuộc sống tương đối, đã có sẵn 2 trường học được xây dựng bỡi chính phủ, rất khang trang va sạch sẽ, trường trung học Phan Bội Châu, trường mẫu giáo Hàng Làng, và một trường mầm non bằng gổ do dân lập, đã có mặt lâu rồi. Về cầu cống thì chỉ có một chiếc cầu gỗ mà người dân ở đây làm tạm để bắt qua một con rãnh nhỏ, ngoài ra cầu lớn cũng được nhà nước xây dựng đàng hoàng. Chúng ta sẽ không tìm thấy bất cứ một công trình nào của cô Tâm Hiền ở đạo tràng nầy. Riêng cuộc sống của người dân tộc vẫn nghèo khổ, đặc biệt là những gia đình nằm sâu trong núi, có một vài gia đình với mái nhà nghèo nàn, rất xứng đáng được đưa vào chương trình “Nhà Tình Thương”. Về hệ thống nước sạch, ở đây người dân tộc dùng nước giếng, vì là vùng cao nguyên nên giếng nước phải đào rất sâu, chi phí có thể lên đến 4 triệu đồng mỗi cái. Đặc điểm của giếng nước ở đây là vài gia đình có thể dùng chung một cái vì họ ở khá gần nhau. Dù thế gian có những lừa lọc, những dối dang, những hư ảo của nó, thì bên cạnh khi nào cũng có những nét trong sáng và tươi mát. Những tia nắng ấm đầu Xuân xin đem về với mọi người là hình ảnh hiền hòa và trang nghiêm của một đạo tràng người dân tộc, trong đó hai Ni Sư như những Bồ Tát hoá hiện, đem giọt nước cam lồ về tưới lên những nảo phiền. Xin mời những bạn gần xa về đây để cùng nhau tô điểm cho đạo tràng càng thêm thanh tịnh. Cùng nhau góp thêm một bàn tay để cho suối từ bi khắp nơi khơi nguồn tuông chảy. Tiếng kinh chiều chân thành và thanh thản sẽ lắng đọng và đưa chúng ta vào cỏi miên thường. Diệu Liên |
|
|
Hồi còn ở trung học, vào tuổi 16, có lần tôi đi theo chị Liên Hương vào bệnh viên thăm bệnh nhân. Chị Liên Hương là sinh viên trường đại học Y Khoa Huế, những ngày trực Chị thường đến nhiều khoa khác nhau để chăm sóc người bệnh. Một ngày cuối năm, Chị đưa tôi vào thăm các em tại khoa Nhi. Vào những ngày chuẩn bị đón Tết, tất cả bệnh nhân đã sắp xếp về quê nhà, các em còn lại nằm trong trường hợp bệnh tình nghiêm trọng, cần có bác sĩ theo dõi, hay do gia đình khó khăn, không có kinh phí để các em được về quê ăn Tết. Chị Liên Hương đã chuẩn bị sẵn một ít bánh, kẹo, sửa để tặng bệnh nhân, gọi là một chút “Quà Xuân”. |
|
Từ đó, những ngày nghĩ học tôi thường một mình đi lang thang qua các hành lang bệnh viện, nhìn sinh hoạt hàng ngày của các bệnh nhân. Nhìn như vậy cho tôi sự gần gủi với bệnh nhân và thân nhân của họ. Tôi có những cảm thọ của vui, buồn, đau đớn khi tiếp xúc những cảnh ngộ khác nhau. |
|
|
Chúng tôi vào khoa “Sãn Phụ”. Ở đây tình trạng của những người mẹ trẻ rất tội nghiệp, chúng tôi đi thăm hỏi từng người và theo đó để giúp đở. Chúng tôi tiếp tục vào khoa “Mắt tai mũi họng”, khoa “Ngoại chỉnh hình” và “Cháy bỏng” hỏi han và chia sẽ số tiền còn lại. Mọi người vui vẻ nhận món quà nhỏ và không quên lời cám ơn chân tình |
|
|
Địa điểm cuối cùng là xã Cẩm Sơn cùng huyện Mỏ Cày, đây cũng là một xã ít dân nên chúng ta chỉ cho 150 xuất, đặc biệt các hộ bị thiệt hại nặng nề. Xã nghèo và nhà cửa bị nhiều hư hại. Chúng tôi đến ân cần trao quà và không quên những lời an ủi. Tất cả nhận những món quà tình thương từ phương xa với lòng biết ơn vô hạn. Chúng ta đã trao 1300 phần quà đến tận tay các nạn nhân cơn bão Durian số 9. Mỗi phần quà gồm có 10 kg gạo, một thùng mì 32 gói, 1kg đường, 400 g bột ngọt và 70,000$ tiền mặt, trị giá $170,000 cho mỗi gia đình. Song song với việc phát quà, chúng ta còn đi thăm các gia đình có nhà cửa hư hại nặng nề để giúp đở thêm, tạo điều kiện cho họ có cơ hội vượt qua những khó khăn ban đầu. 1. Đà Nẳng: Phật tử chùa Bửu Nghiêm hợp tác cùng chúng ta sửa chữa và làm mới lại toàn bộ 10 căn nhà ở các thôn Hòa Khương, Phước Hậu, Phước Thuận thuộc xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang. Ngoài ra anh Phan Văn Tiến, cựu hiệu trưởng trường Hoàng Hoa Thám cùng các giáo chức sẽ giúp chúng ta thực hiện một số công việc có liên quan về cơn bão Xangsane vừa qua ở Nam Ô, Đà Nẳng. |
|
Chương trình “Bảo Trợ” người khuyết tật, cụ già neo đơn, bệnh nhân tâm thần, bệnh nhân chất độc màu da cam, là những chương trình từ thiện đầu tiên của “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời”, được thực hiện vào năm 1989, tính đến nay đã hơn 16 năm, do Ni sư Thích Nữ Như Minh và sư cô Diệu Đàm phụ trách. Trong những chuyến về thăm Việt Nam, Diệu Liên được quý sư đưa đi thăm từng gia đình. Được tặng quà, tiền, sửa và đồ dùng cá nhân đến tận tay các bệnh nhân mà chúng ta đã cùng nhau giúp đở trong thời gian qua. Ngoài những gia đình nghèo khó nằm rãi rác ở tỉnh Quảng Trị, phần lớn các bệnh nhân nghèo khổ và tàn tật lại tập trung ở huyện Phú Vang và làng Dương Nổ, Huế. |
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Nguyễn Thị Diệu, em bị câm và điếc. Khi Diệu Liên đến thăm thì em đã thành một thiếu nữ dể thương sau mười mấy năm được giúp đở. Nhưng cũng có những trường hợp tội nghiệp như cháu Trần văn Ân – sanh năm 1991, đã được giúp đở trên 10 năm nay nhưng vì bệnh tật hành hạ, dù đã 14 tuổi mà vẫn còn nằm trong nôi. |
|
Bên cạnh những bệnh nhân vẫn tiếp tục sống để chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo, các em bé được lớn khôn, Diệu Liên đã được biết những người trong chương trình được bảo trợ hàng năm lần lượt ra đi. Em Bùi Thế Dũng, bị U Não, tay chân đều bị liệt, hoàn toàn không còn cử động. Mẹ em qua đời sớm, bố lấy người vợ thứ, nên Dũng thiếu tình thương của Mẹ. Em là gánh nặng của gia đình, bố phải lo ăn và lo vệ sinh cho em, nên mẹ kế của em không thích và thường hay mắng chửi bố và em, vì vậy không ai chăm sóc cho em. Em nằm một mình trên chiếc giường tre cả ngày, không ai trở người hay cho em một hớp nước. Qúy Sư cô trong ban Từ Thiện Phật giáo thường hay đến thăm, tặng quà và trò chuyện với em. Có lần đến thăm, Diệu Liên thấy em mừng rở khi thấy quý sư bước vào nhà, em cười tươi và nói: “con tôn Sư, con tôn Sư đến thăm con!” Vì em nói ngọng nên “trôn” em nói thành “tôn”. Người dân quê ở Huế nói “trôn” có nghiã là “trông”, trông đợi. Con mắt em nhìn Sư vời vợi, miệng vẫn cười mà hàng mi long lanh nước mắt, em xúc động khi nghĩ rằng em vẫn còn được sự quan tâm của các Sư. Chổ em nằm mùi hôi nồng nặc xông lên, vì em phải đại tiện và tiểu tiện tại chổ, thế mà quý sư đã đến ngồi cạnh giường để bóp tay, cho em uống sửa và nhắc em niệm Phật A Di Đà. Hai tuần sau chuyến đến thăm của Ni sư và đoàn, em đã trút hơi thở cuối cùng với lòng yêu thương của mọi người. |
![]() |
|
Anh Mậu Tấn trước căn nhà nghèo |
|
Được quý Sư đưa đi thăm và phát quà cho các bạn nghèo trong chương trình “Bảo Trợ hàng năm”, mặc dù đã rất quen thuộc. Vậy mà sau mỗi chuyến đi, lúc nào cũng để lại trong lòng Diệu Liên một niềm thương cảm trong nhiều ngày kế tiếp. Đối diện với những hình ảnh, những câu chuyện, những hoàn cảnh mình đã nghe đã thấy tận mắt đã làm cho những khó khăn của chính bản thân mình trở thành quá nhỏ nhoi, như chỉ là một hạt nước trong biển cả mênh mông. Từ đó Diệu Liên tìm thấy niềm vui của những phước duyên mà mình đang có, thêm nhiều trân quý với cuộc đời, và không quên chia sẽ những may mắn đến với những người đang chờ đợi tình thương và sự thông cảm. Mọi sự giúp đở xin gởi về: Eyes of Compassion, 18 Pergola Rd. Etobicoke, On. M9W5K6. Canada |
|
|
|
Thư ngõ hầu chuyện đến cùng quí vị về hoàn cảnh gia đình của em như sau. |
|
|
||||||||||||
|
Em lớn lên cũng tận mắt thấy được những khổ đau cũng như chứng kiến bao cảnh sinh ly tử biệt của kiếp người mà ai rồi cũng phải gánh chịu. Em lại là người con Phật dù là bậc sơ cơ tu học Phật Pháp. Trực tiếp hành ngày với cảnh khổ đau ấy nuôi con bệnh em mới thật sự tin sâu vào nhân quả và cảm nhận sâu sắc lời Phật dạy. Cuộc đời vốn dĩ vô thường và nhiều đau khổ là một sự thật. Vì thế em ngày đêm thành tâm niệm Phật, tụng Kinh Dược Sư và luôn trì niệm chú Đại Bi và trì tụng Phổ Môn tán. Em phát nguyện cứ vào ngày 19 hàng tháng em đi Đài Quan Âm ở núi Tứ Tượng cầu nguyện và xin nước thải của Ngài về cho cháu uống. Ngày qua ngày, em chuyên cần trì niệm, lòng thương con và niềm tin về một vị Bồ Tát cứu khổ không bao giờ phai trong lòng. Ngày đó em không bao giờ quên, đó là giây phút linh ứng và nhiệm mầu đến với em. Buổi sáng đang say sưa với lời cầu nguyện và nhất tâm trong những trang kinh xưa, Cháu bổng thức dậy và gọi em một tiếng Mẹ đầu tiên sau những năm tháng mê man, tiếng nói ngọng nghiệu và hai mắt đã bừng sáng, miệng bắt đầu hả ra được, con người em lúc đó không thể diển tả niềm vui ấy bằng lời. Hạnh phúc thay! Ngày lại ngày cháu phục hồi trí nhớ và mập hẳn ra. |
![]() |
||||||
|
Từ trái sang phải: Ngọc, chi Hương, Minh, Diệu Liên, chị Hồng và cháu Lưu Tâm Chính |
||||||
|
Ứớc mơ của người Mẹ cho con thì nhiều vô kể, nhưng ở đây ước mơ duy nhất của em là cho Cháu được phục hồi lại hoạt động và nhất là bớt đau đớn. Mỗi lúc thấy cháu đau la dữ dội, miệng luôn nói mẹ ơi cứu con với đừng để con chết con còn nhiều ước mơ chưa làm được. Nghe câu nói ấy em đau xót đến tận cùng tâm can. Nhưng em không còn làm được gì cho cháu. Nay em mạn phép kính gửi đến quí vị lá tâm thư về hoàn cảnh bất hạnh của mẹ con em. Hầu mong nhận được sự giúp đỡ hổ trợ của các nhà Từ Thiện có tấm lòng nhân ái, em hy vọng một lần nửa bàn tay từ ái của ngài Quan Âm sẽ rưới xuống những giọt nước cam lồ lên thân của Cháu, để cho mẹ con em có cơ hội được sống trong niềm hạnh phúc đơn sơ nầy. TB: Mọi sự giúp đở xin ghi chú: “Bệnh nhân hiểm nghèo” Dieu Lien |
||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
. Bác sĩ đã chữa lành vết thương trên đầu, và đang trên nữa đường điều trị hai chân thì gia đình hết tiền. Cha đem con gái về nhà, đôi chân Phương vẫn còn những con vít và những ống Inox nằm ngũ say trong đó, âm thầm làm sứ mạng hoà bình để hàng gắn những rạng nức trên đôi xương chân của Phương. |
![]() |
||||||
|
Chiếc chân tàn tật của em Phương |
||||||
|
Hôn nay Phương trở lại bệnh viện vì hai chân Phương bị nhiễm trùng nặng do cơ thể thiếu dinh dưỡng, những vết nức sưng vù đã cho mọi người thấy những đường thịt lồi ra đỏ hoe, nước mô vàng chảy dọc theo chân. Bác Ân lại đem con gái đến bệnh viện, không có lấy một xu dính túi. Phương biết hoàn cảnh và số phận của mình nên đã năn nĩ bác sĩ bệnh viện cưa hai chân bỏ đi. May mắn thay Phương gặp một bác sĩ có lương tâm, ông ta khuyên Phương bình tỉnh, ông sẽ cố gắng giúp Phương, chờ một thời gian xem sao! Trong thời gian đó các sinh hoạc của hai cha con Phương đã làm mũi lòng nhiều người chung quanh, và nhất là hình ảnh của ông Ân, đã khiến các cô y tá tìm đến các tổ chức từ thiện kêu cứu. Câu chuyện cha già nuôi con gái bị tai nạn đến tai anh em “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời”, chúng ta cùng nhau, với tình thương và niềm thông cảm, chắc chắn chúng ta sẽ cùng nhau giử lại được đôi chân của cô Phương. Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời mong mõi quý ân nhân giúp đở cho em Phương. Mọi đóng góp xin ghi chú: Bệnh nhân hiểm nghèo |
||||||
![]() |
||||||
|
Em Phương trên dường bệnh |
||||||
|
|
|
Được tin một anh chàng thanh niên đi bán hột vịt lộn dồn tiền chửa trị bệnh Tim cho Mẹ, anh Thuận, Minh, Diệu Loan và Diệu Liên đến chợ Đông Ba để thăm em. Trước cổng chợ với hàng ngàn người qua lại, một cậu thanh niên trẻ, tay cầm giỏ ni lông với con mắt tìm kiếm những người đã hẹn. Diệu Liên chưa hề biết mặt em, vậy mà khi nhìn thấy em Diệu Liên đã đoán được phần nào, chạy đến hỏi han và giử em lại bên đường để trò chuyện |
|
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||
|
Bác Nguyễn văn Hai 72 tuổi, đang cu ngụ tại đội 6, thôn Long Hồ, xã Hương Hồ, TT Huế. Theo lời bác kể, trước năm 75, bác bị sỏi thận, đã được mổ cẩn thận. Cách đây hơn 12 năm, thận của Bác bị sỏi trở lại, phải mổ lại nhiều lần. Vì Bác đến bệnh viện mà không có tiền nên Bác “được” các sinh viên thực tập chửa trị cho Bác. Cũng vì nghèo, không tiền thầy tiền thuốc, vùng bụng của Bác bị nhiễm trùng nặng, ruột bị hư thối không còn phương cứu chửa. Các “bác sĩ” đã cột bộ ruột của bác bằng 2 sợi dây thép và cho xuất viện “gấp” về nhà chờ chết. Trong lúc tuyệt vọng bác đã bỏ lên núi sống một mình. Che mái tranh bên cạnh 1 nghĩa địa, đào cho mình một cái huyệt bên cạnh nhà để nằm chờ chết. Bác cho biết trong thời gian đó bác chấp nhận cái chết từng giờ từng phút. Bác lập bàn thờ ngài Quán Thế Âm, mỗi ngày Bác niệm Phật 3 lần để được chết nhanh và chết nhẹ. Những ngày đầu lên núi, Bác không ăn uống, nằm yên bất động, nhưng lạ thay sau nhiều ngày như vậy, vết thương bị nhiễm trùng của Bác đã khô từ từ, và sau đó cơ thể của Bác tự đâm da non bọc lấy phần ruột lồi ra bên ngoài. Khối thịt dư đó càng ngày càng lớn (hình khối u trước rốn) lại rỉ ra nước vàng, nên Bác lấy bao ni lông bọc lại để giữ nước trong bao. |
|
Các anh chị trong ban từ thiện tại Huế nhiều lần đem thức ăn khô lên “cứu đói” cho bác, bác thường tâm sự: “nhà cửa dột nát nhưng chịu khó cũng được, khổ nhất là phải đi gánh nước từ dưới núi lên chừng 500 m độ dốc , mà trong bụng đang còn dây thép củ chưa lấy ra được, cứ mỗi lần ráng sức bưng nước về dùng là nó quá đau đớn”. Thấu hiểu được nỗi lòng của bác Hai “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” đã xin sử dụng phần đóng góp tùy hỷ của *** G/D Vũ Xuân Hoa – ông Đặng Tấn Hùng Jr., 100$ us = 1,535,000$ Việt Nam đã giúp được 1) - 1 máy bơm nước từ giếng hàng xóm trị giá 650,000$ Vn, và 500m ống dẫn nước trị giá 300,000 $ Vn 2) - Lợp lại mái tôn trước hiên để Bác có thêm diện tích sinhhoạc và dựng lại vách nhà chi phí hết 585,000$ vn |
||||||||||
|
Khối da non bọc lấy phần ruột bị hư |
||||||||||
![]() |
||||||||||
|
Anh Thuận, bac Hai, Diệu Liên va chị Hương trước mái hiên vừa mới lợp xong |
||||||||||
![]() |
||||||||||
|
*** Nhóm Đất Việt, 500$ US sẽ giúp được 1) - 118$ Us giúp ca phẩu thuật đưa phần ruột nằm ngoài cơthể của bác Hai vào bên trong, gắn ống tiểu tiện và lấy dây thép đang còn nằm trong bụng ra. (phẩu thuật nầy tốn vào khoảng 400 Cnd., đang cố gắng thực hiện, xin mời quý ân nhân giúp đở, đã có 118 US của Đất việt, thiếu 250 Cnd.) 2) 382$ Us được đưa vào quỹ mổ tim cho em Trần thị Mỹ Hạnh – 15 tuổi |
||||||||||
|
Cháu Trần thị Mỹ Hạnh, bệnh Tim |
||||||||||
![]() |
||||||||||
|
Bác ở gần nghĩa địa, nên khi người ta đi xây mộ thường để lại những cát, sạn, xi măng còn thừa, thì Bác xin về để tự xây bể đựng nước, đắp lại sân và nền nhà, xây các bật cấp theo triền dốc lên nhà, việc làm như vậy đã kéo dài trên 10 năm, nhưng căn nhà của Bác vẫn là căn nhà lụp xụp rách nát, cao không quá đầu người. Bác nói: “có chút mô thì tui trét vô chút nớ, khi mô xong thì xong, sống được ngày mô tui biết ngày đó, không mong cầu cái chi hết”. Dù tiếp xúc với một người đứng trước cái chết, nhưng tư tưởng không sợ hải và thản nhiên trước Tử Thần đã thu hút tất cả các mọi người |
||||||||||
|
Bác ở gần nghĩa địa, nên khi người ta đi xây mộ thường để lại những cát, sạn, xi măng còn thừa, thì Bác xin về để tự xây bể đựng nước, đắp lại sân và nền nhà, xây các bật cấp theo triền dốc lên nhà, việc làm như vậy đã kéo dài trên 10 năm, nhưng căn nhà của Bác vẫn là căn nhà lụp xụp rách nát, cao không quá đầu người. Bác nói: “có chút mô thì tui trét vô chút nớ, khi mô xong thì xong, sống được ngày mô tui biết ngày đó, không mong cầu cái chi hết”. Dù tiếp xúc với một người đứng trước cái chết, nhưng tư tưởng không sợ hải và thản nhiên trước Tử Thần đã thu hút tất cả các mọi người. Bác đã cho mọi người thấy được sự sống mãnh liệt trong Bác. Bác thích ngồi dưới mái hiên nghe tiếng mưa rơi, Bác thích chăm bón vườn cây quanh nhà, Bác làm được nhiều chuyện cũng nhờ có máy bơm nước đưa lên tận nhà, câu chuyện làm mọi người sửng sờ nhất chính là chuyện Bác đã nhờ đứa cháu (là một y tá lâu năm) dùng dao để giúp bác mổ mấy viên sạn thận của Bác, vì quá đau đớn và không có tiền đi bệnh viện nên Bác phải làm liều. Ngồi bên ảng nước trước hiên nhà, cháu Bác vừa kinh hải vừa xin Bác đừng làm cái chuyện mà không ai dám làm, nhưng cuối cùng nó cũng phải giúp Bác một tay. Bác cầm máu cho vết thương bằng cách dùng nước trong ảng mà rửa, rửa cho đến khi nào máu bớt chảy rồi Bác ngất đi. Đó là những gì Bác kể lại cho mọi người nghe, Bác lập đi lập lại nhiều lần: “ tui muốn chết lắm, mà không chết được, muốn chết không phải dể”. Lời cuối cùng Bác nhờ Diệu Liên gửi đến quý ân nhân: “từ ngày các anh chị đến thăm, an ủi và giúp cho tui cái bể nước, rồi đến cái mái hiên che mưa nắng, tui sung sướng lắm. Tui không còn muốn chết nữa, giờ chừ tui muốn sống vì tôi không còn cô đơn, chung quanh tui có nhiều người quan tâm đến tui, tui không biết nói cái chi để cám ơn các anh chị em đã cho tiền. Tui có nhiều cây đây, các anh chị muốn lấy cái chi thì cứ tự nhiên lấy … tui tặng hết” Đã đến giờ hẹn, mọi người rời nhà Bác Hai với những lời chia tay ân cần, dù chua xót cho thân phận của bác Hai nhưng mọi người cũng tìm thấy được những ấm áp qua cách sống đạm bạc và tươi vui của Bác Huế - mùa lũ lụt 2005 Tôn Nữ Diệu Liên |
|
Xã Hưng Yên có hơn 12.000 dân, gấp 3 - 4 lần dân số một xã bình thường. Bà con ở đây có 80% là theo đạo Thiên Chúa. Bà con ở đay sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, rất cực nhọc mà không đủ ăn. Một số có sức khỏe thì hàng ngày ra thành phố Vinh để làm thuê, chủ yếu là làm nghề bốc vác, đào đất, gánh cát làm nhà - gọi là làm cửu vạn, nghề lao động chân tay nặng nhọc. Thu nhập của nhưng người làm cửu vạn mỗi ngày khoảng 15 - 20.000 đồng, tạm đủ để mua gạo cho gia đình hàng ngày. Mờ sáng họ rủ nhau đạp xe đi Vinh khi chưa thấy rõ mặt người. Tối mịt mới kéo nhau về nhà, may mắn thì kiếm đủ tiền mua gạo cho cả gia đình! Cuộc đời cứ trôi qua như thế, ngày nào cũng giống ngày nào. Con đông, nghèo khổ, bệnh tật, thất học là nỗi ám ảnh của bà con ở đây! Người bình thường đã khổ, còn người không may bị mù lòa thì bất hạnh hơn nhiều! ở đây khó mà tìm thấy một bộ quần áo mới cho tươm tất. Học sinh đi học không có dép, mùa đông không có áo ấm, chỉ phong phanh một chiếc áo sơ mi cũ kỹ, đôi khi không còn nút áo! Đợt mổ mắt này tổ chức tại Phòng khám Đa khoa khu vực Hưng Yên của Bệnh viện huyện Hưng Nguyên. Nhưng không phải chỉ phẫu thuật cho bà con nghèo bị mù ở Hưng Yên, mà còm khám và mổ cho những người nghèo bị mù ở các xã lân cận như xã Hưng Trung, xã Hưng Tây. Và một số người mù nghèo ở các xã thuộc huyện Hưng Nguyên như Hưng Châu, Hưng Nhân, Hưng Thịnh, Hưng Lợi, tuy ở xa Hưng Yên nhưng vẫn đưa bệnh nhân đến xin mổ. Mọi việc tổ chức khám và lo cho bệnh nhân đều do Bệnh viện Hưng Nguyên làm. Sau khi bác sĩ chuyên khoa Mắt của Bệnh viện Hưng Nguyên đi đến tận từng xã khám chọn lọc bệnh nhân xong, lên danh sách rồi báo cho BS Hàn của Trạm Mắt Nghệ An. Khi BS Hàn sắp xếp được lịch mổ, đoàn mới phối hợp với Phòng khám Đa khoa khu vực Hưng Yên thông báo cho bà con đến mổ. Bà con đến rất đông để BS Hàn khám lại trước khi mổ. Những người mù ở Hưng Yên hầu hết rất nghèo khổ và không nơi nương tựa. Vì thế rất khó khăn khi không có con cái chăm sóc nếu tổ chức mổ ở bệnh viện Hưng Nguyên hay ở Trạm Mắt Nghệ An. Từ Hưng Yên đến Vinh khoảng 25 km. Hầu hết bà con đều bị mù cả 2 mắt - điều này chứng tỏ bà con rất nghèo, không có tiền đi mổ nên mù cả 2 mắt vẫn chấp nhận cảnh mù lòa như thế. Và đa phần đều lớn tuổi, phần nhiều là hơn 80 tuổi. Nhưng cũng có một số ít bệnh nhân mới hơn 40 tuổi đã bị mù do đục thủy tinh thể. Được thông báo ngày mổ trước cả tuần lễ, nên bà con có sự chuẩn bị thoải mái. Ngày đoàn mổ mắt đến, người mù được anh em, con cháu, bà con, hàng xóm dắt đến để mổ từ sáng sớm. Có những người mù được đưa đến chờ đợi từ lúc 5 giờ sáng, vì đêm đó họ mừng không ngủ được! Anh Phan Công Đào, 44 tuổi nhà ở xóm 10, xã Hưng Trung, cách nơi mổ 4 km, rời khỏi nhà từ lúc 1 giờ sáng. Quãng đường đó nếu người sáng mắt đi bộ thì mất khoảng 1 giờ, nhưng với anh Đào thì mất 5 giờ! Anh không ngủ được, chống gậy mò mẫm đi một mình trong đêm tối - với người mù cả 2 mắt thì ngày cũng như đêm mà thôi! Anh Đào tới nơi là 6 giờ sáng, học sinh đi học đã dắt anh tới tận nơi mổ. Anh nói đêm đó có xin vợ 50 ngàn đồng để sáng mai đi khám mắt xin mổ, nhưng vợ anh nói nhà không còn xu nào! Không muốn phiền đến vợ con, đêm khuya anh đã mở cửa chống gậy ra đi. Anh Đào có 3 con, 2 trai đã hơn 18 tuổi, thất học từ lâu, tha phương cầu thực ở miền Nam 2 năm nay chưa về. Cô con gái út 14 tuổi ở nhà với vợ chồng anh. Anh bị mù 1 mắt đã 7 năm nay, sau đó con mắt còn lại cũng mù 4 năm rồi. Chưa một lần đi khám, vì anh không có tiền. Nghe thông báo có đoàn mổ mắt từ thiện nên anh mới dám đi khám, hy vọng sẽ mổ được! |
|
|
|
Anh chống gậy đi mò khi mọi người đang yên giấc, nên suốt quãng đường 4 km anh không gặp ai cả. Đường nông thôn khó đi, nên anh Đào nhiều lần bị té xuống ruộng, quần áo của anh lấm lem bùn đất! Ngã xuống, anh lại đứng lên tiếp tục chống gậy đi mò! Khi nghe tiếng người đi chợ sớm, anh biết trời đã sáng. Gặp một nhóm học sinh đi học, anh hỏi đường và nhờ các em dắt đến Phòng khám Đa khoa Hưng Yên. Chúng tôi đến Phòng khám Đa khoa Hưng Yên lúc 7 giờ, khi đó bệnh nhân đã tới rất đông. BS Hàn cùng 4 nhân viên Trạm Mắt và 1 BS chuyên khoa Mắt của bệnh viện huyện Hưng Nguyên vào làm việc ngay, với sự giúp đỡ tận tình của BS Hồng, Trưởng Phòng khám Đa Khoa khu vực Hưng Yên và 5 Y tá. Tôi cũng lo sắp xếp, hướng dẫn cho bà con vào khám. Đến 9 giờ thì BS Hàn bắt đầu vào phòng mổ để phẫu thuật. Lúc đó tôi thấy một người đàn ông còn trẻ, chống gậy trong phòng khám đi ra, anh không khóc nhưng nước mắt giàn giụa, ướt đẫm khuôn mặt! Chưa kịp hỏi thì anh ta đã vấp phải bức tường trước mặt rồi ngã lăn ra - đó chính là anh Đào! Tôi hỏi tại sao khóc, anh Đào nói: “ BS đã khám cho tui, nhưng nói bị mù lâu quá rồi nên không thể mổ được nữa”. Anh Đào đã đưcợc ti đưa đi khám lại, nhưng vì bị mù đã lâu nên vô phương cứu chữa! Tôi đã nhờ một cô giáo nấu cơm cho anh ta ăn, sau đó chở về tận nhà. Nhà anh Đào nghèo lắm, không có cái gì đáng giá 5 usd! Đó chỉ là một trong những người nghèo bị mù mà tôi biết rõ, nhưng chắc chắn những người bị mù cả 2 con mắt mà vẫn không có tiền đi mổ thì chắc chắn phải rất nghèo. Chỉ sau 1 tuần tôi đã có tin mừng từ Hưng Yên: Tất cả những bệnh nhân nghèo được mổ đều có kết quả tốt đẹp! Những cụ già hơn 80 tuổi đã nhìn thấy ánh sáng, thậm chí có cụ sáng mắt đến nỗi có thể xâu kim để tự may vá được! Bà Đan 83 tuổi nói với tôi rằng, bà nhìn thấy được những sợi tóc bay trước mặt! Những tin tức này tuy đến với quý vị ân nhân hơi muộn, nhưng chắc chắn quý vị sẽ rất vui sướng khi thấy đóng góp của mình đem lại kết quả tốt đẹp. |
|
Trong thời mở cửa, cơ chế thị trường tất cả vì nhu cầu cơm áo sinh tồn., con người ngày càng có nhịp sống vội vàng, bận rộn hơn rất nhiều! Trong vòng xoáy nghiệt ngã đó, sự khác biệt về giàu nghèo cách nhau không xa là bao, khoảng cách đó nhiều khi chỉ là một khu phố, một bức tường, hay một dãy nhà. Hố ngăn cách giàu nghèo này ngày càng được khoét sâu thêm giữa thành phố và nông thôn. ! Nằm về phía Tây Nam của thị xã Hà Tĩnh, cách 7 km, chưa đầy 15 phút đi xe máy theo tỉnh lộ 27, rẽ trái men theo đoạn đường 2 km vừa được người dân đào đắp, phủ bằng đất sét: xóm 10, Tượng Sơn, Thạch Hà, thị xã Hà Tỉnh, nằm heo hút sau luỹ tre. Cả làng có trên 100 hộ gia đình, chôn vùi giữa một vùng đất thấp trũng, cằn cỗi và rất nhiễm phiền chua. Hằng năm dân làng nơi đây gánh chịu nhiều sự tàn phá khắc nghiệt của thời tiết, gió Lào nóng cháy khô hạn, mưa lũ hoành hành dữ dội! Mỗi khi mưa bão đến cả làng như một ốc đảo bị cắt đứt với mọi thông tin liên lạc bên ngoài, lối ra vào, và sinh hoạt đi lại của người dân... đến các em học sinh nhỏ đến trường học cũng chỉ có một phương tiện duy nhất là chèo thuyền nan nhỏ! Phần đa nông dân nơi đây sống bằng nghề trồng lúa nước thuần tuý, cảnh đất ít người đông, đồng chua nước lỡ, mọi chi thu các gia đình chỉ trông chờ vào hạt thóc cũ khoai. Lúc nông nhàn hay buổi giáp hạt, may mắn cho những gia đình có sức lao động, họ lại kéo nhau lên thị xã, tập trung, chen chúc nhau ở cái gọi là "Chợ người " để tìm việc làm thuê mượn, khuôn vác, đào đất, nhằm có thêm nguồn thu nhập kiếm cân gạo nuôi sống vợ con qua cơn đói khổ..! Cuộc đời mỗi người, thế nào để được gọi là giàu có, thật hơi khó vì lòng tham con người sâu rộng và vô đáy nữa ! nhưng nếu chúng ta chú tâm, ghé Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời sẽ thấy được rất rõ nỗi cơ cực, bần cùng của người anh em đồng loại, họ thiếu từ miếng cơm ăn đủ no, cái chăn đắp đủ ấm về tiết đông giá lạnh, con cái họ ước ao có đủ tiền đóng phí tổn để được theo chúng bạn tung tăng cắp sắp tới trường.. gia đình có cái bể để chứa ít nhiều nước sạch dùng ăn uống hằng ngày..! chỉ từng ấy thôi đối với họ nhiều khi vẫn là một giấc mơ dài...! nguồn vốn để làm Lu nước sạch cho 26 ( các ) hộ gia đình nghèo đợt này đến như một niềm hân hoan., Trong âm thầm khảo sát thực tế, sau những lần thăm dò ướm thử để có thể đi đến thống nhất giữa ba tổ thợ và các gia đình sẽ được hưởng,thoả đáng với giá ngày công,thêm tình nghĩa chòm xóm.Tất cả trong tinh thần " Nỗi buồn khi san sẽ, nỗi buồn sẽ vơi đi,niền vui khi san sẽ, niền vui sẽ tăng gấp bội.." sự chấp thuận không mấy khó khăn của các gia đình nghèo được hưởng là cho thợ ăn cơm trưa, rà soát danh sách ,thống nhất lại với các tổ thợ trên nguyên tắc là họ phải tự bỏ tiền ra mua vật liệu để làm Lu như : Xi măng, bột đá,cát...mỗi tổ khi hoàn thành xong 5 cái một báo lại ,đi kiểm tra thực hư,hay dở sẽ thanh toán. |
|
|
|
Đối với những người nông dân : Có nhiều Ô. Bà đã rất già yếu gần 70,80 tuổi đời như gia đình cố : Đậu Hữu,Dương Thống,Hoàng Trọng.... nhìn vào họ thật đáng thương tâm! khuôn mặt hiện lên những đường răn khổ não, lưng uốn còng xuống bởi gánh nặng của khổ đau, đói nghèo, suốt một đời mưa nắng long đong! tần tảo nuôi con, đến nay khi tuổi đã xế bóng.. vẫn là một mái nhà tranh vách đất lụp xụp. xiêu vẹo, dội nát; nền đắp bằng đất bùn đất, khi tiết trời hanh nắng thì không đáng ngại cho lắm..nhưng mỗi khi có mưa to,nước ngập căn nhà trở thành vũng lầy thật bẩn thỉu...! các gia đình trẻ mới lập gia đình ra ở riêng cũng không mấy khả quan, như gia đình anh chị: Hùng Phương, Lê Dân, Yêu Thuỷ .... với hai bàn tay trắng, tất cả họ dựng xây tương lai dựa trên mấy sào ruộng thấp trũng.,, căn nhà của các anh chị chủ yếu lớp bằng tấm lớp Birô thấp sát đầu người, hoặc tranh tre tạm bợ cùng đàn con nhỏ nheo nhóc chung sống, mặc cho tương lai của gia đình, nguy cơ bỏ học giữa lớp, giữa cấp của con cái vẫn thường xuyên đe dọi...! trước mặt còn muôn vàn khó khăn, thế nhưng từ các Cụ già... cho đến các đôi vợ chồng trẻ dù túng thiếu đến mấy, nhằm ngày tổ thợ đến làm Lu, họ thu xếp công việc đồng áng, vay mượn tạm bợ để nấu cho thợ và những người thân đến hộ giúp có được bữa cơm nặng đũa, rôm rã hơn ngày thường...để công việc tổ thợ nhanh, gọn thì khuya hôm qua họ đã đến chở khuôn đúc, để sáng ngày lại vận chuyển vật liệu về nhà mình. Những người thân họ hàng con cháu, bè bạn cũng đến giúp công sức, điếu thuốc, bát nước chè râm ran phấn khởi, vì thế các thợ phần nào đỡ mệt hơn chút ít, nhờ sự thuận lợi của thời tiết, sự nhiệt tình của các nhóm thợ, niền vui sướng được nhân lên hoà với không khí ngày mùa đang về...cùng với những giọt nước sạch quý hiếm đầu tiên đã đến tay người dùng, sau cơm mưa rào bất chợt...! |
|
|
|
cháu Nguyệt con chị Nghĩa nói thật: gia đình mẹ con cháu nghèo, đã nhiều lần định vay mượn, thuê thợ cố làm được cái " Lu " thế nhưng vẫn không làm được ! hôm nay cháu vui mừng sẽ không còn cảnh phải đi xin nước sạch về nấu cơm nữa! gia đình chị Nghĩa thật nhiều khó khăn, chồng chị chết khi chị hãy còn trẻ lắm! anh ra đi để lại cho chị nhiều buồn đau, một mình với hai đứa con thơ dại, thương con. Chị quyết ở vậy chạy xuôi ngược, kiếm tiền để nuôi con khôn lớn, nay đứa con trai đầu của chị vì nghèo thiếu đang tha phương cầu thực lâu nay không về, mẹ con chị ngày ngày vẫn tần tảo kiếm sống trên đồng ruộng, Tới chụp hình cho gia đình Anh chị Minh Phong, họ mới được bố mẹ cho ra ở riêng, xóm dành cho khu vườn cuối làng, gần sát bến sông, do vậy khi con nước thuỷ triều lên, anh chị lại khó nhọc bồng bế cháu nhỏ, chuyển dời gia sản chỉ có ít đồ dùng thô sơ, chăn màn cũ kĩ, giường chiếu, con lợn và mấy đôi gà lên chổ cao ráo hơn. Anh đưa ra nhận xét thật hồn nhiên rằng: Nước mưa chứa trong "Lu " ngọt và mát lắm, vợ chồng chúng tôi từ nay sẽ không phải đi lấy nước ở sông vừa bẩn thỉu về uống nữa vì đã có nước mưa sạch để dùng rồi..! Thông tin chưa dài, nhưng cũng có thể mang đến với Quý Ân nhân hảo tâm để chúng ta biết rằng những đóng góp của Quý vị đối với những người nghèo thiếu tại quê nhà là niền vui, niền an ủi rất lớn! chúng ta cùng nhau chung lòng, chung tay thắp lên trong họ niền hy vọng, tin tưởng vào cuộc sống mai ngày sẽ tươi đẹp hơn....!? Tình thương yêu không chỉ phụ thuộc vào khối lượng của công việc ta đang làm...nhưng nó thực sự có giá trị hơn là ở cường độ Tình yêu của chúng ta được gửi trao, ban tặng cho những người nghèo đói qua mỗi nghĩa cử dù nhỏ bé nhất...! Nguyễn Ngọc Mỹ - Hà Tĩnh Mùa Hè 2005 |
|
Hình ảnh của bản Phonsavan Say, qua một người bạn kể lại và một số hình ảnh, làm Diệu Liên nhớ đến những ngôi làng nhỏ xa xăm nằm sát biên giới Lào, thuộc huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình, mà đã có một lần Diệu Liên và các anh chị em cùng sư Như Minh đi thăm hỏi và phát quà cho đồng bào nghèo trong chuyến đi mổ mắt năm 2002. Nhưng những nơi Diệu Liên đã đi qua thì chưa có nơi nào có sự nghèo khổ đồng loạt như bản làng Phonsavan Saỵ Bản Phonsavan Say. Ở ngay bên cạnh thị xã Phonsavan của tỉnh Xiêng Khoảng, nơi có Cánh Đồng Chum nổi tiếng bí ẩn, nhưng hầu như dân Lào đã lãng quên ngôi làng bé nhỏ nghèo nàn nầy rồi, vì hỏi thì không ai biết mà tìm thì không có trên bản đồ. Cả làng có khoảng 40 gia đình. Hầu hết là người H Mông ( người HMong nếu nhìn gần thì họ từ vùng núi phương Nam bên Trung Quốc qua Lào khoảng 200 năm nay, nhưng theo nghiên cứu sử học thì họ thuộc bộ tộc Bách Việt và nguyên thửy là một bộ tộc lớn của Bách Việt. Có người bảo họ là người dân tộc Mèo, từ Trung Quốc xuống.). Chỉ có duy nhất 1 gia đình Việt kiều sống ở đây, gia đình nầy quê ở Lào Cai hay Yên Bái gì đó, sang Phonsavan Say từ năm 1943, lâu quá rồi, nên họ cũng không còn nhớ được nữa. Mới đây có anh Mùa Nơ Chua, 41 tuổi, người dân tộc H Mong ở Huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An cũng về đây lấy vợ, đúng là lá rụng về cội, nghèo khổ như vậy mà họ vẫn tìm về quê Hương. |
||||||||||
![]() |
||||||||||
|
Ở đây không có điện, không có hệ thông nước, không telephone, không trường học, không trạm Y tế … hầu như không có gì hết, ngoài trừ những túp lều rách nát không đủ che nắng che mưa. Họ sống bằng nghề làm nương rẫy, thức ăn tìm thấy ngoài chợ của làng là những con nhái nhỏ bằng ngón tay, nấu chung với măng. Họ còn ăn cả Rêu xanh nữa! Những món ăn khủng khiếp như: Nhái, Rêu, Bọ hung, Dế, Nòng nọc ở dưới suối, Da Trâu bò phơi khô, cá thối và cả phân non trâu bò nữa ( lấy trong ruột khi người ta làm thịt )! Ai nhìn thấy cũng đều kinh hãi. Những căn nhà ở đây phần nhiều không bằng cái lều nuôi Vịt hay thua xa cái chuồng Heo ở VN. Những cái nhà khang trang nhất cũng gía trị chỉ khoảng từ $10 đến $30 Us! Có cái chỉ là một tấm bạt để che mưa nắng. Nơi đây không có giường ngủ hay bàn ghế, họ trải tấm chiếu rách trên nền đất để ngủ, để ăn và để cho tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình. Vùng này lạnh lắm, ngay cả mùa Hè vẫn lạnh và cũng phải cần áo ấm, khí trời se buốt như thời tiết ở Đà Lạt của VN, có nhiều lúc có tuyết. Dân làng lại không có chăn mền và áo ấm để mặc, mùa Đông có nhiều người chết vì lạnh. Quần áo của họ đều là đồ rách đi lượm về mặc, trẻ em thiếu quần áo, những lúc lạnh nhất các em cũng chỉ có chiếc áo mỏng tanh chạy chơi khắp làng. Trong làng có 2 quán Bún Phở, nhưng họ cho bún hay phở vô tô rồi cho nước sôi, rau muống và một chút ớt bột vào để ăn. Người Việt qua Lào làm ăn buôn bán cũng nhiều, đa số người nước ngoài vào tham quan đều thương mến người Lào, vì người Lào thật thà chất phác, không bao giờ lường gạt người khác. Chị Thiều Hoa, một Việt Kiều từ Pháp về du lịch các nước Á Châu, sau khi đi thăm nước Lào, chị Hoa tâm sự với Diệu Liên là ở với người Lào chị thấy an toàn và thoải mái hơn sống với người Việt Nam, mặc dù chị là người Việt Nam, hiểu và nói được một chút tiếng Việt. Hình ảnh thiếu thốn và cái lạnh buốc da trong điều kiện sống của người dân Phonsavan Say gợi nhớ lại những ngày vượt biển của Diệu Liên. Cái lạnh cái đói hành hạ đã làm Diệu Liên hiểu sâu về những hoàn cảnh của dân làng Phonsavan Say Với những gì mình đã đi qua và những gì mình thấy và nghe tại bản làng Phonsavan Say, Diệu Liên viết những giòng chử nầy đến với quý ân nhân, mong mõi được sự tiếp tay của mọi người để “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đơì” có điều kiện giúp đở những dân nghèo ở đây |
||||||||||
![]() |
||||||||||
|
Chúng ta được may mắn có thành viên cũng như quen biết một số các anh thỉnh thoảng đi công tác bên Lào, và cũng đã nhận lời giúp chúng ta thực hiện một vài chương trình ở đây. Thời gian thực hiện những chương trình này là 2 tháng, hoàn tất trước muà mưa đến Trước những khó khăn của dân bản Phonsavan Say, và kinh nghiệm của chúng ta trong chương trình giúp đở dân nghèo, các anh em thiện nguyện viên sẽ cố gắng thực hiện các chương trình sau: 1) Làm công trình nước sạch cho cả làng. Mua ống nước, thuê thợ dẫn nguồn nước suối về những bể lớn, các bể sẽ được xây nhiều nơi theo nhu cầu của dân làng. 2) Tặng chăn mền và áo quần ấm cho ông bà già và trẻ em 3) Trồng trọt 4) Làm lại một số căn nhà cho những gia đình nghèo nhất đang sống trong lều Vì khả năng giới hạn của dân làng nên chúng ta không thể thuê người tại địa phương cho công việc xây dựng nầy. Để bảo đảm chất lượng và thời gian của công trình, chúng ta đang làm giấy tờ để đưa thợ tại Việt Nam qua làm việc tại Phonsavan Saỵ. Trong vòng 10 ngày đến, các anh em tại quê nhà và nhóm thợ xây dựng sẽ rời xa gia đình nhiều tuần để giúp chúng ta thực hiện chương trình Phonsavan Say. Một lần đi một lần khó, nên chúng ta sẽ cố gắng thực hiện tối đa những gì chúng ta có thể làm trong điều kiện tài chánh cho phép |
||||||||||
|
Vào những ngày
Chúng tôi đến thăm gia đình em Phạm Thị Bích, sinh năm 1991, học lớp 6, trường Trung học Cơ sở Xá Xuân. Gia đình Bích cư trú tại Ðội 2, xã Hưng Xuân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Chúng tôi được biết Bích qua cô Hiệu trưởng Kim Oanh. Bích được xếp hạng học sinh giỏi toàn tỉnh. Ðã hơn 1 năm, Bích không có tiền để đóng học phí cho nhà trường, nhưng vì em học quá giỏi nên các cô giáo không đành để em nghỉ học. Bích vẫn cắp sách đến lớp và học xuất sắc. Em đang nghĩ đến một ngày nào đó đành phải dang dở giấc mơ tới trường, vĩnh viễn không được trở lại lớp học! Khi đó em sẽ buồn tủi lắm, nhớ trường, nhớ bạn và những nuối tiếc... Ðó là nỗi niềm trong lòng em khi nghĩ đến chị Xuân - chị đầu của Bích - năm nay 17 tuổi, cũng là học sinh xuất sắc, nhưng vì hoàn cảnh gia đình, Xuân đã phải rời ghế nhà trường đi làm thuê cho một tiệm phở dưới phố. Sống trong hoàn cảnh khó khăn, em Bích luôn có ý thức nương tựa vào tình thương của mọi người ðể ðời sống bình thường của em ðược tồn tại. Cô giáo Oanh cho biết em Bích là học sinh ngoan, nghe lời các cô giáo, bài vở ðàng hoàng và luôn gần gũi ðể giúp cô giáo và cùng các bạn lo cho các sinh hoạt của lớp. Cô Oanh còn nói rằng, khi thấy các cô giáo thấm ướt mồ hôi sau những giờ lên lớp, Bích ðã dùng tập vở ðể quạt mát cho cô giáo, chăm sóc và nâng ðỡ bạn bè trong học tập, nên Bích ðược mọi người yêu thương. |
|
|
|
|
Có nhiều bữa hai chị em Thảo và Bích ăn toàn rau lang luộc chấm muối, vì nhà em không còn gạo ðể nấu cơm! Ðêm nằm xót bụng không thể ngủ ðược, nên Thảo phải thôi học rời xa gia ðình kiếm tiền phụ giúp mẹ lo cho em và bà Nội. Dù biết mẹ không đủ sức nuôi em ăn học bằng cách mò cua bắt ốc, nhưng Bích vẫn luôn mơ ước ðược cắp sách ðến trường, vì ðược ði học là niềm khao khát của em! Xe Honda của chúng tôi ðến tận nhà, thầy Minh Phú đã tặng em Bích một học bổng 500,000$ VN – trong ðó có 300,000$ cho học phí nhà trường, 100,000$ cho bộ sách giáo khoa, 100,000$ cho một bộ áo quần cùng với tập vở, bút mực và cặp ði học. Chúng tôi còn tặng Bích một Góc Học Tập gồm một bàn, một ghế và một cây ðèn, giá trị 180,000$ VN – 13$ Usd hay 18$ Cad. Bàn và ghế chúng tôi ðặt thợ mộc ðóng, gỗ tốt mua ðược với giá từ thiện, chúng tôi không mua bàn ghế từ chợ, vì chất lượng bàn ghế hàng chợ thấp kém dễ hư. Mỗi bộ bàn ghế tốt, giá trị bằng 2 tô phở, có thể dùng cho nhiều anh chị em trong một gia ðình, ðược sử dụng với thời gian ít nhất là vài chục năm. Góc học tập giúp các em tránh ðược những chứng bệnh ðau lưng và có tác hại cho mắt vì thế ngồi và chiều cao của bàn ghế không ðúng kích thước. Khi ðến nhà Bích - một căn nhà tranh tồi tàn ðược hàng xóm láng giềng làm cho. Chúng tôi ðược bà Nội của Bích cho thấy bàn học cũ của em, ðó là một cái kiềng làm giá ðể nồi, một tấm thớt bằm rau heo ðặt bên trên kiềng làm bàn và một cái ðòn nhỏ xíu ðể ngồi học! Tài sản trong nhà không có cái gì đáng giá 5 USD! Sau những lời tâm sự của gia đình, cô giáo và hàng xóm, chúng tôi ðược biết anh Phạm Văn Hùng, cha của Bích, ðã qua ðời lúc 40 tuổi, vào năm 2001. Mẹ em Bích, chị Phan Thị Thanh, 40 tuổi, sau khi lập gia ðình đã sanh ðược em Xuân. Vì làm ruộng không ðủ sống, nên cha mẹ ðã gởi Thảo lại cho bà Nội để đi kinh tế mới. Sau vài năm anh chị sanh thêm một cháu trai, lúc con trai ðược vài tuổi thì anh Hùng lâm bệnh nặng. Vì không đủ sức chạy chữa cho anh H ùng và nuôi con dại, anh chị đã quyết ðịnh cho con trai, anh ðược người nhận nuôi tặng 3 triệu ðể lo tiền thuốc thang chữa trị. Vài năm sau chị Thanh lại sanh ðôi hai bé gái, Bích là một trong hai em bé này. Cũng vì sống trong thiếu thốn, không đủ sức nuôi con, cha mẹ Bích lại phải cho đi một đứa và giữ lại Bích. Công việc trồng trọt ở vùng kinh tế mới quá cực nhọc, anh Hùng phát bệnh lại, nên ðã phải ðưa vợ con trở về nhà quê cũ ở với mẹ già. Một thời gian sau anh qua ðời, do không thuốc men và sức khỏe quá yếu ðể chống lại với cơn bệnh cứ mãi đeo đuổi theo anh! |
|
|
|
Lắng nghe bi kịch đã xảy ra cho gia đình em Bích trong nhiều năm qua, thầm hiểu sức chịu ðựng và những ước mơ nhỏ bé qua ánh mắt buồn của Bích, anh Hứa không cầm ðược nước mắt, ôm em vào lòng và hai Bác Cháu cùng khóc, những dòng nước mắt ấm, hòa chung với nhau trong tình người bên hai mái ðầu bạc trắng và xanh non, khiến cho mọi người chung quanh không khỏi mủi lòng. Chúng tôi đã hứa hằng năm sẽ cố gắng tìm ân nhân ðóng góp ðể tiếp tục giúp em có cơ hội ðến trường như bao nhiêu bạn cùng trang lứa. Chúng tôi nhớ lại lời tâm sự của anh An sau chuyến về thăm Việt Nam, ðúng vào thời gian xảy ra trận lũ lụt lịch sử năm 1999. Khi anh trở lại Mỹ, một buổi sáng cuối tuần, anh ðưa các con ðến tiệm McDonald, thức ăn bày ra ðầy bàn, nhưng các con không chịu ăn mà chỉ thích vọc phá. Nhìn con ðuổi rượt nhau chạy khắp nơi mặc cho cha mẹ vừa la vừa năn nỉ. Anh nhớ lại ðêm ngồi trong quán phở trên ðường phố Sài Gòn, anh linh cảm có người ðang nhìn mình phía sau lưng, anh quay lại thì bắt gặp đôi mắt của một em bé, thèm khát nhìn vào tô phở ðang bốc khói của anh! Em bé khoảng 12 tuổi, trên tay em còn bế ðứa em nhỏ khoảng 3 tuổi, ðứng ngoài cửa tiệm phở. Nhưng lúc anh nhìn vào mắt em thì em quay ði chỗ khác. Anh gọi em ðến bàn ăn, và gọi cho em 2 tô phở, em mừng rỡ, nuốt vội vàng những dòng nước miếng ðang tuôn ra trong miệng. Việc ðầu tiên là ðút ngay từng sợi phở nóng thơm ngon cho em bé nhỏ xíu trên tay. Sau khi cho em ăn no nê, em bé mới ăn vội hết phần còn lại, và ðể dành tô phở còn nguyên! Anh An thắc mắc, vì biết rằng em vẫn chưa no mà tại sao không ăn hết tô phở anh mua riêng cho em? Anh hỏi lý do thì ðược em cho hay là em muốn xin anh ðem về cho Mẹ ðang bị bệnh và còn một em gái ðang nằm ngoài vỉa hè với Mẹ. Cha em ðã qua ðời trong ðêm lũ lụt, khi cha phải lội nước lũ ði cột lại con heo của mẹ vào chuồng. Con heo là tài sản duy nhất của gia ðình, không thể ðể trôi ði ðược. Nhưng than ôi, người cha thân yêu ðã cùng con heo trôi theo dòng nước trong ðêm tối và không bao giờ trở lại với Mẹ và các con! Nhìn sâu vào thế giới tuổi thơ với các hoàn cảnh khác nhau, anh luôn trăn trở và thao thức về tương lai của những mảnh ðời bất hạnh lang thang trên ðường phố. Anh ðã ðóng góp nhiều cho chương trình học bổng và góc học tập. Mỗi khi các em ở Việt Nam ðược nhận học bổng của anh, các em viết thư cám ơn và làm bạn với con anh, anh xem ðó là những món quà anh muốn tặng cho các con trong ngày sinh nhật hay những ngày lễ lớn. Anh rất mong có thể giúp các em ði trọn con ðường học vấn, dù biết là còn đầy gian nan! Anh quan niệm rằng một người nông dân hay một người lao ðộng có học thì cách hành xử cũng khá hơn, có cơ hội ðể thoát khỏi cảnh khốn cùng và tránh ðược những thiệt thòi của một người không hề biết chữ Ngồi trong bóng tối của gian phòng nhỏ ở thành phố West Palm Beach – Florida, tai tôi vang vọng tiếng hát trầm buồn của những ngày xa xưa sau cuộc chiến NÓ Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ, Tuổi ấu thơ ðã mang nhiều âu lo Ngày nó sống kiếp lang thang Ngẩn ngơ như chim xa ðàn Nghĩ mình tủi thân vô vàn ! Ðêm ðêm nó ngủ Một manh chiếu rách co ro Một thân côi cút không nhà Thân em lá cỏ … Vâng! thân em lá cỏ, người thân của em đã mất rồi, hoặc vì chiến cuộc hay do bệnh tật thiên tai; tai nạn đã bất ngờ ập xuống, ðã ðể lại nhiều trẻ mồ côi, bơ vơ giữa chợ đời. Chúng ta có thể làm gì giúp các em? Những hoàn cảnh thương tâm, những mảnh ðời bất hạnh, thiếu may mắn ðó ðã thôi thúc chúng tôi luôn cố gắng ðể Chương Trình Học Bổng và Góc Học Tập cho các học sinh nghèo ðược tồn tại và hoạt ðộng ðều ðặn. Công việc này khó thực hiện ðược nếu không có sự giúp ðỡ của quý vị; một lời giới thiệu của quý vị về chương trình của chúng tôi đến với các thân hữu giàu lòng nhân ái sẽ là những điều khích lệ lớn lao để giúp chúng tôi có đủ tài vật để tiếp tục con đường phụng sự, Tôn Nữ Diệu Liên Những ngày nắng ấm cuối năm ở Florida - 2003 |
|
Quê hương em ðẹp lắm Xin anh nhớ về thăm Ðường ði có hoa nở Lối về không xa xăm Quê hương em rực rỡ Bát ngát cả trời thơ Vườn xưa màu xanh thẳm Mẹ cha đang đón chờ Quê hương em khoai sắn Lúa mạ vẫn xanh tươi Tình người như biễn cả Tiếng cười rộn trăng thanh Quê hương em mầu nhiệm Có tuổi trẻ tham thiền Ðông dân làng nghe Pháp Như dòng suối bình yên... .. Tôi ðược ðọc bài thơ trên ðây của thầy viện trưởng tu viện Kim Sơn, tôi thích lắm, ðã phổ nhạc ðể hát và ðể ôm ấp hình ảnh ðẹp của quê hương. Trở lại Việt Nam lần thứ 7 sau 22 năm sống tha phương trên ðất khách quê người, và cũng là lần ðầu tiên tôi trở lại Việt Nam một mình, thiếu vắng hình bóng của người chồng mà tôi rất ðổi yêu thương. Chồng tôi hy sinh ở lại ðể cho người vợ trẻ lên ðường thực hiện những ước mơ ðã ấp ủ trong lòng nhiều năm tháng. Ước mơ ðợc chăm sóc hai mẹ già trong những ngày cuối ðời và ước mơ ðược sống gần hơn với những người nghèo khó, ước mơ không chỉ riêng một mình tôi mà là ước mơ của cả hai chúng tôi. Dĩ nhiên, hạnh phúc nào cũng phải ðổi bằng thương ðau. Khi quyết ðịnh rời bỏ việc làm, một công việc mà tôi rất thích, phụ trách về bảo hiểm thuốc, răng và mắt cho công chức và nhân viên của toà thị sảnh thành phố Toronto - City of Toronto. Một trong những hạnh phúc lớn nhất của công việc là tôi ðược các bạn ðồng nghiệp thương mến và ủng hộ tôi thực hiện những ước mơ hướng về mãnh ðất khốn khổ và ðầy thương ðau mà tôi ðã sinh ra và lớn lên trong suốt quảng ðời thơ ấu. Một mình lên ðường, tôi nghĩ rằng mình phải trải qua nhiều khó khăn về mặt chính quyền, về sự giao tiếp và phải tự quyết ðịnh tất cả những gì xảy ðến cho tôi. Lúc ðó Mẹ Hiền Quán Thế Âm là người bạn ðồng hành, là chiếc phao trước biển trời mênh mông, ðể tôi nương tựa và nuôi dưỡng niềm tin rằng chung quanh tôi có chư Phật, chư vị Bồ Tát, cùng chư hiền thánh tăng, những người khuất mặt trong mười phương thế giới luôn luôn hộ trì và che chở tôi nếu tôi là một người làm việc từ thiện, người con hiếu dâu thảo ðúng ðạo lý. Tôi đã phải cẩn thận khi phát nguyện làm việc, vì đã có nhiều người sau một thời gian làm Từ Thiện thì họ vô tình đã Từ đi cái Thiện của thủa ban đầu. Nói ðến con người 'Từ Thiện', tôi lại nhớ ðến một câu chuyện ngây ngô, và dể thương. Nguyên là trong khi ði thực hiện chương trình mổ mắt, sau những ðợt mổ, tôi thường trở lại thăm một số bệnh nhân có tên trong danh sách, xem gia cảnh và tình trạng của mắt sáng ðược bao nhiêu phần trăm. Trong ðiều kiện ðó tôi lại ðược biết thêm ðời sống về kinh tế của người dân quê. Như gia ðình hai ông bà cụ già, ông thì mù, còn bà thì vừa mù vừa bị thấp khớp, ði ðứng khó khăn, hoàn toàn mất sức lao ðộng, sống với số tiền 80,000.00$ VN ($8 Can hay $6 U.S.) mỗi tháng, ðây là số tiền hưu sau nhiều năm cần mẫn làm việc cho nước cho dân . Có nhiều cặp vợ chồng trẻ với vài ba ðứa con nhỏ, một thửa ruộng khiêm nhường, nếu trời thương cho ðược mùa thì đủ gạo ăn, còn mất mùa thì không biết lấy gì mà sống, một mảnh vườn ðất khô cằn thiếu nước tưới, với những luống khoai lang, rau muống, bí, bầu vừa ðể là thức ăn cho gia ðình vừa là thực phẩm nấu cháo cho heo. Nhìn qua hoàn cảnh ðó, tôi nghĩ ðến việc ðưa họ vào Huế ðể ði làm, có tiền lương căn bản hàng tháng ðể nuôi các con ăn học. Hôm ðó anh Hoè giới thiệu vào cho tôi 4 người: chị Cúc, chị Loan, chị Châu và chị Thủy. Nhưng trước ngày ði thì chị Cúc đã bị người chồng say rựu ðánh lúc 2 giờ sáng, lúc mà mọi người ðang ngủ say ðể không ai có thể ðến cứu chị, kết quả là chị bị anh dùng xà-beng vạch rách nhiều ðường trên mặt và bị thương trên ðầu, phải ði trạm xá chửa trị và khâu lại nhiều mũi. Nghe tin thì buồn lắm, buồn cho kiếp ðời của người phụ nữ, buồn cho căn bệnh rựu chè bài bạc ðang có mặt khắp nơi trên quê hương ðã khổ đau lại càng ðau khổ hơn, buồn cho loài người thiếu trí tuệ vụng tu ðể mãi là nghiệp chướng cho nhau. Tôi ngậm ngùi dùng một ít tiền trong quỹ tuỳ hỷ, nhờ người ðem ðến trạm xá ðể tặng và an ủi chị Cúc. Ba chị còn lại vẫn tiếp tục ði vào Huế. Khi ðưa các chị ðến bến xe, anh Hòe đã gởi một lá thư dài cho tôi, nói rỏ hoàn cảnh và khả năng của từng người. Các chị rất lo lắng vì không biết cô Diệu Liên nào ðó là ai! có bán các chị qua biên giới Thái Lan,Trung Quốc..., vào làm chị em với Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du không? Anh Hòe giải thích rằng: '' chị Diệu Liên là một người Từ Thiện, chị ði giúp những người khốn khổ, và không bao giờ hại ai hết, mọi việc ở Huế sẽ có chị ấy lo cho các chị''. Các chị ngồi trên xe ðò vào Huế mà cứ phân vân về 'Người Từ Thiện', hai chị Loan và Thủy nói với nhau rằng: '' người Mỹ, người Nga .. .. thì ta có nghe qua, nhưng chưa từng nghe 'Người Từ Thiện', họ là ai mà chỉ có ði giúp người chứ không bao giờ hại người, chỉ có người ở cõi trên mới sống như vậy thôi''. Các chị lại nghĩ thêm: ''Như vậy, khi gặp 'Người Từ Thiện' thì mền (mình) nói tiếng chi, họ nói tiếng Từ Thiện mền nói tiếng Việt Nam thì làm răng hiểu ðược nhau, rồi có những lúc 'người Từ Thiện' biến mất thì làm răng mà giúp mền khi mền gặp khó khăn.. ..'. Hai chị Loan và Thủy ðưa ra nhiều câu hỏi mà không ai trả lời ðược. Chỉ có chị Châu là một cô giáo bị mất việc làm vì không có biên chế, thì văn minh hơn, trả lời rằng: '' ..thì người Từ Thiện cũng như người mền thôi, chỉ có khác là họ chuyên ði làm việc thiện'' nói xong chị Châu vì bị chóng mặt nên ði vào giấc ngủ thật say, ðể lại một mối lo âu lớn ðè nặng trong lòng hai chị Loan và Thủy. Qua khung cửa, mặt trời đã lên cao, chiếu xuống những dảy núi với rừng cây xanh tươi của ðất trời xứ Việt, chiếc xe ðò vẫn chạy vun vút trên con ðường nối liền hai miền Nam Bắc; bỏ lại sau lưng các chị bao nổi nhớ thương của mái tranh nghèo và cảnh gia ðình đói khổ, để tìm ðến một thế giới mới, thế giới mà mình chưa một lần ðược biết ðến, với con 'Người Từ Thiện' lạ lùng như câu chuyện thần tiên. Ba chị ðến Huế, tôi ra ðón các chị khi chiếc xe xích lô chở cả 3 ðổ trước cửa nhà. Họ ngỡ ngàng trông thấy một cô bé nhỏ thó, trong chiếc váy ngắn, với mái tóc 'ðờ mi' như con trai, cười nói luyên thuyên bằng tiếng Việt ðàng hoàng, mà còn tự xưng: '' em là Diệu Liên''. Các chị hơi kinh ngạc, răng mà không giống các nàng tiên trong chuyện cổ tích, áo màu rực rỡ thướt tha chấm ðất, tóc dài buông thả, chắc là cô tiên của thời ðại mới, của thế kỷ 21 hay chăng? Nhưng cũng vẫn còn lo sợ, chị Loan thúc chị Châu: '' ðưa ngay lá thư của cậu Hòe cho 'Người Từ Thiện' ði, nhỡ cô ta biến mất thì biết ðâu mà tìm''. Trời đã về chiều, tôi ðể họ nghỉ ngơi ăn uống thoải mái tại nhà, ðợi ngày mai ði nhận việc làm. Tối hôm ðó, như thương lệ, khi có khách ðến nhà, nếu có ðiều kiện, tôi thường thích ngủ chung với người ta, ðể tâm sự và biết rỏ hơn ðời sống của từng người và hoàn cảnh sống chung quanh họ. Mọi người ngồi lại với nhau trên bộ ngựa lớn, nói chuyện thật khuya. Các chị kể cho tôi nghe hoàn cảnh gia đình của từng người và cuộc sống của người dân quê. Các chị cũng kể luôn những suy nghĩ cuả các chị về 'Người Từ Thiện' và nỗi lo lắng làm tôi vừa buồn cười lại vừa thương hại. Cười cho sự ngây ngô của các chị và thương cho cuộc ðời của họ, quá khổ cực nên chỉ biết chạy gạo cho có ðược ngày hai bữa cơm, còn thế giới bên ngoài thì hình như là mù tịt. Rồi các chị ôm lấy 2 cánh tay tôi, thay nhau nâng niu và nói: ' mát hè, mềm hè.. .. hay hè! 'Người Từ Thiện' cũng giống người mền hè'. Vừa nhột lại vừa thương nên tôi chỉ biết cười ðể chịu ðựng và hưởng sự trìu mến mà các chị đã dành cho tôi, 4 chị em cười giòn giã hạnh phúc bên nhau. Bên cạnh ðó tôi cũng nói cho các chị biết một vài ðặc tính của người Huế - cách ăn, cách nói, cách hành xử - tôi ðặt nặng về tánh thật thà, ngay thẳng, cần cù, nhẫn nhục. Khuyên các chị hãy bỏ đi những tánh hẹp hòi nhỏ mọn, nhắm vào lợi ích dài lâu cho chính mình và cho con cháu mai sau. Các chị ngồi nghe ðến ngẩn ngơ. Bổng nhiên bầu không khí trở nên trầm lặng, mọi người nhìn nhau, thở nhẹ và mĩm cười. Trong sự vắng lặng ðó có tiếng nói nhỏ nhưng rất rỏ của ai ðó trong các chị: '' lạ hè, ðúng là 'Người Từ Thiện' không giống người mền''. Nói ngày ði thì phải nói ðến ngày về. Ngày tôi rời Canada, các bạn ai cũng trêu chọc, thách thức rằng tôi khó có thể xa chồng trên 3 tháng, vì suốt quảng thời gian trên 20 năm trong nghĩa vợ chồng, tôi và Minh chỉ có xa nhau 3 ngày, 3 ngày Minh ði dự khóa tỉnh tu. Bây giờ bổng nhiên lại quyết ðịnh lên ðường tìm 'lý tưởng' trong 6 tháng, eo ơi! thật là ghê. Nhưng kỳ lạ làm sao, khi về ðến Việt Nam, gặp lại quý Thầy, quý Ni Sư, quý bác và các anh chị, trong nước cũng như ngoài nước, cùng nhau lên chương trình, bàn kế hoạch và cùng nhau xuôi Nam ngược Bắc. Tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh không giống nhau, tôi hăng say với công việc đến lúc nhìn lại sổ tay thì mình đã xa Minh vừa tròn 4 tháng. Bốn tháng rồi sáu tháng trôi qua, tôi lên ðường trở về Canada, buồn vui lẫm lộn khó tả. Ðược gặp lại người chồng yêu thương là một hạnh phúc lớn, nhưng phải xa 2 bà mẹ già và bỏ lại công việc từ thiện mà tôi rất ðổi yêu thương lại là một nỗi xót xa. Trên ðường bay về Toronto, máy bay ðáp xuống Alaska, mọi hành khách ðược xuống phi trường. Ði thiền hành qua các cửa tiệm, một thế giới hoàn toàn khác lạ với những gì mình đã sống trong những ngày tháng qua. Đời sống vật chất cao quá, sang trọng quá, đẹp đẻ quá. Sự rực rỡ đã khơi dậy lòng ham muốn trong tôi, một âm thanh nào ðó trong hư không thúc dục bên tai: thế giới nầy là của ta, ta có quyền ðược hưởng những lạc thú nầy, tại sao ta lại phải sống lam lũ kham khổ như những ngày tháng qua. Và cũng trong cùng sát na ðó, ý thức trở về, giúp tôi quay lại với nụ cười và hơi thở thơm ngon quen thuộc. Năng lực của ý thức đã soi sáng lại trong tôi hình ảnh Mẹ Hiền Quán Thế Âm cuả tâm nguyện, luôn có mặt bên tôi trong suốt cuộc hành trình. Lòng tôi phẳng lặng, sóng đã trở về với tự tánh của nước, phẳng lặng như tờ ðể ta có thể thấy rõ hơn bản lai diện mục của mình bên dòng suối trong và thơm ngon của dòng đời. Bước nhẹ những bước chân thảnh thơi theo cùng dịp ðiệu của hơi thở, tôi hát thầm bài kệ Thở vào thở ra Là hoa tươi mát Là núi vững vàng Nước tĩnh lặng chiếu Không gian thênh thang Tôn Nữ Diệu Liên Huế - 2002 |
|
Chị Tôi, Em Tôi Mùa hè năm 2002, anh Dũng theo anh Hòe đến nhà Diệu Liên thăm và đã kể cho Diệu Liên nghe một câu chuyện của người bạn. Dũng kể rằng: Thắng là người bạn lúc còn nhỏ, Phan Đăng Thắng, sanh năm 1978, gia đình rất nghèo, cha chết sớm lúc Thắng còn nhỏ xíu, bác Mão là mẹ của Thắng, ở góa nuôi 6 ðứa con dại, Thắng là con trai út và là cậu con trai duy nhất trong gia ðình. Vì gia đình quá nghèo, nên các chị ðều không ðược ði học nhiều mà ðã lập gia đình sớm. Thắng là con trai duy nhất nên gia đình luôn mong Thắng ðược ði học ðể có nghề nghiệp ðàng hoàng, không phải tiếp tục nghề làm ruộng. Dũng cho biết rằng Thắng ðang theo học trường Kỹ Thuật Việt-Hàn do Hàn Quốc tài trợ, Thắng học Khoa Chế Tạo Máỵ Thắng học giỏi, nhưng không dám thi Ðại Học, vì nếu thi ðậu mà không ðược ði học thì sẽ ðau khổ lắm. Vào giờ trưa, các bạn cùng lớp ở lại trường, mua cơm bụi ăn (tức là cơm bán hai bên lề ðường nên chứa ðầy bụi của xe qua lại) ðể khỏi phải ðạp xe về nhà ăn cơm trưa giữa trời nắng chang chang hay trong mùa mưa rét mướt. Thắng thì không ðược như vậy, vì Thắng không có 2000$ VN (20 cents Can, 13 cents US) ðể ăn trưa. Nhà Thắng nghèo ðến nỗi nếu nói ðến tiền thì hoàn toàn không có, gia đình Thắng làm ruộng ðể có gạo ăn, thực phẩm chính là những gì trồng ðược trong vườn. Mẹ Thắng nấu cơm và ra vườn hái rau bầu, bí nấu cho 3 mẹ con ăn, cho nên nếu về nhà thì có thức ăn, còn nếu hỏi ðến 2000$ cho bữa cơm trưa thì thật là khó quá. Dũng còn nói rằng chiếc xe ðạp của Thắng rất cũ nên thường hay bị hư, Thắng ði học bằng xe ðạp, khoảng cách từ nhà ðến trường là 15 cây số, mỗi ngày Thắng phải đi 2 vòng, tổng cộng là 60 cây số. Mỗi khi xe bị hư giữa ðường, dù xa ðến trên 10 cây số, Thắng cũng phải dẫn bộ xe ðến tiệm sửa xe của Dũng và không bao giờ Dũng lấy tiền. Dũng còn nói: Thắng không có áo len, suốt nhiều mùa Ðông qua, dù trời lạnh ðến mấy, Dũng cũng chỉ thấy Thắng cong người co rút trong chiếc áo sơ mi mỏng như giấy quyến. Thắng chịu ðựng như vậy từ lúc còn tấm bé. Nhưng ðến năm thứ 3 của trường Kỹ Thuật thì Thắng có nhiều nỗi lo âu, không thể dùng sức chịu đựng của mình ðể vượt qua, vì khi ra trường Thắng phải làm luận án, phải ði thực tập ở các tỉnh xa khác, phải ðóng nhiều khoản tiền cho lệ phí thi cuối năm, tất cả những cái ðó phải có tiền mới giải quyết ðược. Nói ðến tiền thì Thắng hoàn toàn bế tắc Diệu Liên nghe qua câu chuyện thì thật là bồi hồi, Diệu Liên làm bài tính với Dũng để biết còn bao nhiêu ngày tháng nữa thì Thắng ra trường, mỗi ngày sẽ giúp Thắng 2000$. Diệu Liên ðã dùng 100$ Can trong phần tùy hỷ sử dụng của Xuân Nhi để nhờ anh Hòe gởi cho Thắng tiền ăn cơm trưa mỗi tháng, ðồng thời giúp Thắng những phí tổn ðể hoàn tất năm học cuối cùng. Trong một dịp ði ủy lạo ở một làng gần nhà Thắng, Diệu Liên ðã ghé đến thăm gia đình Thắng. Trước sân nhà, Diệu Liên thấy một cô gái ðang dẫn con trâu ði vòng vòng ðạp trên ðống lúa khô, ðể làm rơi những hạt lúa còn sót lại. Diệu Liên ðược người dẫn ðường cho biết ðó là cô Thìn, người chị kế của Thắng. Qua kinh nghiệm của các chị, sau khi lập gia ðình xong thì các chị cũng lại ði vào con ðường nghèo khổ như mẹ, ngày chạy lo miếng ăn chưa ðủ, nên các chị chưa bao giờ có tiền ðể lo cho mẹ và em trai ăn học. Thìn, năm nay gần 30 tuổi, lúc còn ở cái tuổi thanh xuân, có nhiều chàng trai trong làng đến xin hỏi, nhưng Thìn không dám nghĩ xa. Mẹ đã lớn tuổi, lại hay bị bệnh, em trai thì còn ðang ði học dở dang, công việc nhà, heo gà vịt, ðồng áng, vườn rau, giàn bầu giàn bí ai lo. Nên Thìn hy sinh tuổi xuân của mình ðể lo cho Thắng và mẹ già, Thìn đã sống âm thầm như một bóng tối, âm thầm hy sinh, âm thầm chịu ðựng. Nghe qua câu chuyện của Thìn, Diệu Liên cảm thấy bồi hồi và đến trò chuyện với Thìn. Thìn rụt rè e ấp, không dám nhìn vào mắt Diệu Liên mà chỉ nhìn xuống ðất, Diệu Liên cảm tưởng như mình đang sống trong xã hội giai cấp xứ Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật. Thìn tự xem mình nhỏ bé làm Diệu Liên càng thêm đau lòng. Vài tuần sau ðó nhân tiện có người làng về quê Thìn, Diệu Liên gởi tặng Thìn một chiếc bóp ðựng tiền nhỏ và một lá thư dài. Lá thư khuyên Thìn nếu có ai ðến dạm hỏi, mà ðàng hoàng thì cũng nên lập gia đình, ðừng ðể cơ hội ði qua và có thể không bao giờ trở lại, chuyện học hành của em Thắng từ nay Diệu Liên sẽ quan tâm và sẽ giúp ðỡ ðể em hoàn thành nghề nghiệp. Sau khi người bạn ðem lá thư ðến, vài hôm sau, anh ấy nói với Diệu Liên: “ Em ðề nghị lần sau chị ðừng nên viết thư cho ai hết, chị viết cái gì trong ðó mà làm cô Thìn cứ lấy ra ðọc hoài, và mỗi lần ðọc là mỗi lần khóc, thôi em xin can chị, chị ðừng viết thư cho ai hết”. Sau khi gặp Thìn, Diệu Liên kể chuyện lại cho Minh, chồng của Diệu Liên và Xuân Nhi cô em gái tinh thần. Minh hứa sẽ giúp cho Thìn tiền ðể làm tiệc cưới nhỏ, còn Xuân Nhi thì sẽ tặng Thìn chiếc nhẫn cưới. Trở lại câu chuyện của Thắng. Khi Thắng nhận ðược tiền ăn trưa, Thắng rất là ngạc nhiên và xúc ðộng, Thắng lớn lên ở vùng ðất mà người ta gọi là “ít Người nhiều Ma, nơi mà con người nghèo quá, và người ta không thể chia sẻ cho nhau bất cứ một cái gì hết. Hôm Diệu Liên ra làng Thắng, nghe tin Thắng tìm ðến căn nhà mà Diệu Liên xin ở lại trong thời gian làm việc. Thắng ðến, nhưng không vào nhà ðể gặp Diệu Liên mà ðứng tần ngần ngoài cửa, khi mời Thắng vào nhà ðể nói chuyện thì Thắng rất rụt rè, không tự nhiên. Thắng đẹp trai, sáng suốt, nhỏ thó, có phong thái của một anh sinh viên. Trên người mặc bộ áo quần mà Bác Triêm ở Sài Gòn gởi ra cho Diệu Liên, 7 kiện hàng ðồ bành ðể tặng cho người nghèo, và ðoàn của Diệu Liên có tặng Thắng một bộ ðồ tây ðể ði học. Thắng cũng như Thìn, trước mặt Diệu Liên, Thắng cảm thấy mình bé nhỏ lắm, bé nhỏ như hạt tiêu. Khi nói chuyện Thắng không nhìn thẳng vào mắt Diệu Liên mà chỉ nhìn xuống ðất, và hai bàn tay của Thắng sờ vào những chấm ðen trên chiếc bàn ðá. Thắng im lặng suốt buổi, ðể Diệu Liên ðơn ca cả buổi tối, Thắng không nói gì hết mà chỉ trả lời những câu hỏi của Diệu Liên, anh chàng rất hà tiện lời nói, những câu trả lời của Thắng thường là “Dạ!” hay “Dạ không!”. Tối hôm ðó, Diệu Liên nói chuyện thật lâu với Thắng. Diệu Liên nói rằng: trong cuộc sống mình phải có tự tin và hy vọng, Ngày nào mình còn hơi thở và máu trong tim mình còn lưu chuyển thì sự sống có mặt, và dù có phải trãi qua nhiều khó khăn, mình cũng nên trân quý và yêu thương nó. Hạnh phúc hay khổ ðau ðôi khi không tùy thuộc vào những gì mình có , mà tùy thuộc vào cái nhìn và nhận thức của mình về cuộc ðờì. Theo kinh nghiệm của Diệu Liên nếu muốn sống có hạnh phúc thì không những chỉ sống cho mình mà nên học sống cho người, ban trãi tình thương và rồi tiếp nhận tình thương trở về một cách tự nhiên như mặt trời mọc và lặn. Không thắc mắc, không tính toán, không so sánh. Diệu Liên cũng nói cho Thắng biết là nếu nói ðến sự bần hàn cùng khổ thì Diệu Liên cũng đã từng sống qua trong những ngày vượt biển, Diệu Liên cũng ðã trải qua những ngày tháng khốn cùng, đã phải chịu đựng nhiều ngày ðói khổ, ðói ðến nỗi chỉ còn nằm dài với những hơi thở yếu ớt, chờ tử thần ðến rước ði. Sau 2 ngày vượt biên, lên ðênh trên biển ðộng, ði HongKong, ghe Diệu Liên tấp vào ðảo Hải Nam, Minh ðã ði “mượn” lon sữa bò Ông Thọ của gia đình chủ ghe cho Diệu Liên một ngụm sữa. Nhờ ngụm sữa ðó mà Diệu Liên ðã sống sót cho ðến ngày hôm nay. Những ngày tháng ðau thương ðó không những ðã không làm cho Diệu Liên chán nãn vơí cuộc ðờì, mà nó lại còn làm phân bón cho cây trái hạnh phúc sau nầỵ. Những ngày ở trại tỵ nạn là những ngày làm kiếp không nhà, không gia ðình, không tiền bạc.. Và bây giờ hai tài sản quý nhất trong ðờì Diệu Liên là Người Chồng tuyệt vời và một khối Bạn tốt bụng; như lời anh Hoè diễn tả về Nhi, một trong những người bạn của Diệu Liên: “Tấm lòng của Xuân Nhi lớn như một dòng sông mà chiếc đò có thể chèo trong ðó ðược”. Không phải chỉ có Xuân Nhi, mà Diệu Liện có rất nhiều người bạn quý, tấm lòng của họ rộng lớn như ðại dương, như chị Kim, anh Ngọc Danh, chị Như Tuyền va quý ân nhân đã và ðang cùng Diệu Liên ðem niềm hy vọng ðến cho những người cùng khổ. Diệu Liên khuyên Thắng ðừng bao giờ sợ khổ và nghèo vì những người giàu có chưa chắc ðã có hạnh phúc. Chỉ sợ mình vì nghèo khổ rồi làm những chuyện không đẹp, những chuyện này sẽ ảnh hưởng suốt cuộc ðờì còn lại của mình, có lúc lại ðể lại sự ăn năn và hối hận trong lòng mình mãi mãi. Những ngày Diệu Liên còn ở lại trong ngôi làng nghèo ðó, sau giờ học về, Thắng thường hay qua thăm Diệu Liên, nhưng em chỉ ði vòng vòng ngoài vườn ðể biết chị Liên ðang làm việc trong nhà mà không vào làm phiền chị, hai chị em biết sự có mặt của nhau nhưng không cần phải nói với nhau một lời nào. Diệu Liên khuyên Thắng cố gắng học hành cho ðàng hoàng, sau khi ra trường, ổn ðịnh ðược công việc, Thắng sẽ phụ với Diệu Liên trong những công tác từ thiện tại ðịa phương, gởi tình thương ðến những làng quê nghèo, nơi có những mảnh ðời bất hạnh như chị em mình đã ði qua. Thắng rất xúc ðộng, sẽ cố gắng làm nhưng khó quá vì trong mắt Thắng đó là việc làm của Thánh Nhân mà người Phàm nhý Thắng không bao giờ có cơ hội. Nhưng Thắng ðã lầm rồi, vì trong Thánh có Phàm mà trong Phàm có Thánh. Hôm nay trở lại Việt Nam, một niềm vui lớn cho Diệu Liên và cũng cho tất cả quý ân nhân đã ủng hộ liên tục các chương trình từ thiện tại quê nhà khi anh Hoè báo cho hay Thắng ðã tốt nghiệp ngành Chế Tạo Máy, với số ðiểm cao, nên trường ðã giới thiệu Thắng ðến làm việc tại Khu Công Nghiệp Liên Chiểu, Ðà Nẵng, nhà máy sản xuất thép; với số lương trên 1 triệu ðồng VN mỗi tháng. Thắng rất sung sướng, trở về quê ăn Tết, ðã ðem tiền dành dụm về ðể lo thuốc thang cho Mẹ già và giúp ðỡ gia ðình các chị. |
|
|
||||||||||||||||||||
|
Câu chuyện những chàng trai từ bỏ ý niệm xây dựng mái ấm gia đình cho riêng mình, chọn cuộc sống ðộc thân ðể ðược hy sinh trọn vẹn cho tha nhân, ðã gây một ấn tượng sâu ðậm trong lòng Diệu Liên, Diệu Liên đã tìm ðến họ ðể học hạnh yêu thương của những vị Bồ Tát ðang hóa hiện khắp nơi. Trời rạng sáng, Diệu Liên cùng Nhiệm lên ðường ði thăm nghĩa ðịa của các hài nhi ðã bị cuộc đời từ chối ngay khi hình hài chưa thành tượng. Anh Tống Viết Hiếu, sanh năm 1964. Anh Hiếu còn ðược gọi là 'Anh Hài', danh từ “Anh Hài” ðược gọi như một sự tôn trọng các hài nhi vô tội bị cuộc ðời từ chối. Các anh chị ðã xem các hài nhi như những người thân của mình, những bậc anh chị ðáng ðược tôn quý. Lúc còn là một sinh viên, ngày hai buổi cắp sách ðến trường, anh ðã ðược các anh em trong nhóm thiện nguyện giao phó trách nhiệm chôn cất những thai nhi bị phá bỏ từ bệnh viện Trung Ương Huế, bệnh viện khu vực 3 và các phòng mạch tư. Vì nhà anh Hiếu nằm tựa lưng vào chân núi nên anh có một quả ðồi mênh mông ðể làm nghĩa ðịa cho thai nhi, thuận tiện trong việc chăm sóc và nhang khói. Thường sau khi phá, những thai nhi nầy bị vứt bỏ ði như một loại rác vô thừa nhận, có một giai ðoạn người ta còn đi xin thai nhi về làm thức ăn cho heo. Nên các anh chị em trẻ ðã liên hệ với các y tá ðể xin nhận thai nhi, nếu có thể xin luôn tên mẹ của em bé thiếu may mắn, hy vọng sẽ có một ngày, vì lý do nào đó thân nhân muốn tìm lại thì các anh chị vẫn có những thông tin cụ thể. Lúc anh Hiếu còn là sinh viên, mỗi ngày sau khi tan học đã ðến bệnh viện, gặp các chị y tá ðể xin nhận thai nhi, ðem về làm lễ và chôn cất ðàng hoàng. Anh Hiếu bỏ tất cả những thai nhi vào trong một cái tiểu nhỏ bằng gỗ, chở bằng xe ðạp, lên bến ðò Bình Điền ðể qua sông. Nhà anh Hiếu ở bên kia sông. Có hai con ðò qua sông. Một chiếc đò chỉ dùng ðể ðưa khách sang sông của một cụ già, chiếc ðò nầy thì bằng lòng cho Hiếu cùng tiểu của các hài nhi lên đò. Một chiếc đò khác là của một gia đình sống trên đò, và cũng dùng ðò làm phương tiện kiếm sống, thì không dám cho Hiếu ðưa tiểu thai nhi lên vì sợ vía của những vong linh bé nhỏ đó. Những lúc gặp phải chiếc đò của gia đình nầy thì Hiếu phải lấy áo mưa bọc chiếc tiểu rồi ðể lên ðầu bơi qua sông, nhưng vào mùa lũ lụt, anh Hiếu không thể bơi ðược trong dòng nước chảy xiết, thì chủ ghe cho anh kết bè chuối, bỏ chiếc tiểu lên bè rồi kéo theo sau ghe. Ðó là một việc làm ðầy tình thương, chỉ có lòng Từ Bi Lớn mới giúp anh Hiếu vượt qua tất cả những khó khăn và thử thách, biến tình thương thành hành ðộng. Ðối với Diệu Liên, dù là người phụ nữ, công việc nầy thật khó ðể thực hiện được. Hình ảnh của một nam sinh viên hy sinh cho công việc như vậy lại càng khó tin nếu không ðược tận mắt thấy rõ việc làm của các anh. |
|
|
|
Ngày tháng trôi qua, Hiếu ðã ra trường, nhưng vẫn chưa ði tìm việc làm vì không ai thay thế vị trí Anh Hài cho Hiếu. Thêm vào ðó, mỗi ngày tiếp xúc với công việc, sống gần và chăm sóc các Anh Hài, làm cho Hiếu yêu thích việc làm của mình, mặc dù không ðược một món tiền thù lao nào cả. Nếu ði tìm việc làm ở thành phố thì anh không những phải bỏ mẹ già trên 70 tuổi một mình không ai chăm sóc, mà các Anh Hài thiếu may mắn không ðược cuộc ðời thừa nhận nầy sẽ ði về ðâu. Gia ðình anh ta chỉ có một mẹ một con, chị gái của anh Hiếu đã đi xa xứ theo chồng. Anh đã quyết ðịnh ở lại vườn trái cây của cha ông ðể lại dùng làm phương tiện sinh sống và nuôi dưỡng mẹ già, phục vụ các Anh Hài. Hôm hai chị em Nhiệm và Diệu Liên lên chơi, mẹ anh Hiếu có nói: thằng Hiếu con tui là con trai duy nhất, lại không chịu lấy vợ, sau ni tui chết hắn ở với ai? Ai lo cơm lo nước cho hắn? Diệu Liên ân cần ôm bà Mẹ Việt Nam âu yếm mói đùa: 'sau ni mệ qua ðời con và Nhiệm sẽ lên ở với anh Hiếu, con lo việc nhà, Nhiệm lo trồng cây tưới nước, mệ ðừng lo, tụi con sẽ chăm sóc cho nhau, anh Hiếu sống cho mọi người thì mọi người sẽ sống cho anh'. |
|
|
|
Chương trình ðược thực hiện từ năm 1992, ðến nay theo thống kê thì các anh chị thiện nguyện trẻ đã chôn cất lên ðến 20,000 thai nhi. Mỗi em ðược bỏ vào một om ðất, ðược dán rất kỹ ðể tránh các thai nhi mà cha mẹ bị các loại bệnh truyền nhiễm như bệnh AIDS, và có ðính kèm ngày sanh cùng tên người mẹ nếu có, và những om ðất ðó ðược bỏ vào một chiếc tiểu 40 x 60, mỗi ngày chôn một tiểu từ 2 ðến 20 em. Mỗi om ðất là 3000$ VN ( 20 cents USD hay 30 cents Cad), mỗi tiểu giá từ 40,000 ðến 50,000$ VN. Có nhiều giai ðoạn không có ðồng nào trong túi ðể mua om, anh Hiếu phải xin những bao thuốc lá ba số 5 hay con ngựa bằng giấy cứng làm tiểu, những lúc như vậy thì khó chịu lắm, vì để lâu bìa giấy sẽ bị thấm ướt và bốc mùi. Anh Hiếu cho biết làm việc nầy phải thương các em lắm mới chịu nổi nùi hôi tanh bốc lên mỗi khi vác các em trên vai, leo lên những triền dốc của con ðường ðến nghĩa ðịa. Sau nhiều năm làm việc, giờ ðây mỗi mùa hè nắng cháy người, bàn tay Anh Hài lại bị lột từng lớp da, không biết có phải bị chất ðộc phá hoại không? Mỗi tiểu là một ngôi mộ bé tí teo, xây bằng 5 viên tạp lô, có ghi lại ngày tháng năm. Có những em mà các anh chị xin giữ lại ðược tên mẹ thì chôn cất riêng một nơi, sau nay nếu thân nhân muốn nhận về thì sẽ có ðủ thông tin ðể cho các bà mẹ lầm lỡ ðược ðưa con về. Có những em mà người mẹ không muốn lưu lại thông tin thì sẽ ði vào nghĩa ðịa VÔ DANH. Ðể ðóng góp việc mua om và tiểu, ðồng thời khuyên khích việc làm của các em, Diệu Liên ðã gởi số tiền: Vũ Thị Kim 100$ Can, Nhận Ngộ 200,000$ VN ðể mua thêm om, và 100$ US của cháu Bảo Nghiêm ðể xây mộ cho các em. Sau khi ði thăm và thắp nhang từng mộ phần của 20,000 hài nhi, 3 chị em Diệu Liên, Hiếu và Nhiệm ðã trở về vườn cây ăn trái, ngồi dưới gốc cây Dâu Tiên cùng nhau chia sẽ những trái dâu ngọt lịm, những múi mít ráo, những trái chuối vỏ mỏng dính. Dưới gốc cây, Diệu Liên ðược Hiếu và Nhiệm cho biết ða số những người mẹ phải phá thai là những bà mẹ ðã có ðông con hay nghèo quá không thể nuôi thêm nữa, những bà mẹ có người chồng vô trách nhiệm với con cái và gia ðình, những sinh viên học sinh xa nhà cô ðơn nhớ gia ðình, những cô sinh viên ở nội trú học kém và ðược các bạn nam giúp ôn bài vở; những công nhân viên nhà nước nếu có ðứa con thứ 3 thì sẽ bị mất việc; những mối tình không ðược cha mẹ chấp nhận, những người yêu nhau mà lại có quan hệ bà con xa; những người phụ nữ ði buôn nuôi chồng con, bị thuế vụ bắt hàng nên phải " hối lộ" bằng thân xác ðể hàng không bị tịch thu; hay những người ði buôn ðường xa muốn ðược bảo vệ thì phải dể dãi với các anh tài xế. Có rất nhiều bà mẹ lầm lỡ sau khi phá thai xong, lương tâm bị cắn rứt, lên tìm lại nấm mồ con và ngồi khóc hàng giờ. Cũng có người lên tìm Anh Hài vì các em thường về báo mộng. Và cũng có người sau khi làm ăn khá giả ðã thương ðứa con vô tội nên xin về ðể chôn cất thờ phụng ðàng hoàng. |
|
|
|
Hạt lúa Bồ Tát Hôm tháng Năm vưà qua, Diệu Liên ra Nghệ An làm việc với Thầy Minh Phú, anh Allen, và anh Hòe. Cả nhóm di chuyển qua nhiều làng, xã, thôn nghèo suốt ngày bằng xe Honda, ði ðến tận nơi những hoàn cảnh ðói khổ và khó khăn ðể ðược chứng kiến tận mắt. Ngày ði ðêm nghỉ dưới ánh nắng mặt trời chói chang và sức nóng khủng khiếp của những cơn gió Lào. Mỗi buổi sáng trước giờ rời nhà, Diệu Liên thường thức dậy thật sớm, ði thiền hành trên những bờ ruộng. Hai bên xanh rì những cây lúa, nặng trĩu những hạt lúa cuối mùa. Ðẹp lắm, có lẽ ðó là giờ phút hạnh phúc nhất của Diệu Liên, giờ phút an lành và thảnh thơi. Khung cảnh thanh bình của những mái tranh nghèo vẫn còn nằm trong sương mai, những thửa ruộng nằm ngăn nắp thứ tự nhắc nhở ý nghĩa chiếc Phước Ðiền Y của Phật tổ trao truyền, những cơn gió nhẹ thoáng qua mang theo mùi thơm của lúa. Diệu Liên ðã ðứng lại, nhắm mắt và hít thở thật sâu, ðể hưởng trọn hương vị thật thơm và thật ngon của hương ðồng cỏ nội, khó có thể tìm ðược ở vùng thành thị xa hoa. Trước khung cảnh hòa bình an lạc, Diệu Liên không quên thầm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài luôn hiện hữu trong Diệu Liên trên mọi nẻo ðường mà Diệu Liên đã đi qua. Diệu Liên ngừng lại, ðứng nhìn thật lâu và Diệu Liên mỉm cười với những hạt lúa chín, tròn trịa rung rinh trong gió như ðang vẫy gọi ðón chào Diệu Liên. Một cảm giác lạ lùng ðến với Diệu Liên. Những hạt lúa trước mắt trong ðồng lúa mênh mông bát ngát bỗng dưng trở thành những vị Bụt và Bồ Tát ðang mỉm cười với Diệu Liên, hằng hà sa số chư Bụt và chư vị Bồ Tát ðang có mặt trong Diệu Liên. Cảm giác nầy thật là lạ lùng khó diễn tả, Diệu Liên như nín thở ðể giữ lại thế giới Cực Lạc ðó trong tâm mình ngay trong giờ phút hiện tại. Thở một hơi nhẹ, trở về với thực tại của cuộc sống, rời xa khỏi thế giới mầu nhiệm. Về lại nhà, chuẩn bị lên ðường cùng ðoàn ði làm việc, ngồi sau yên xe anh Hoè chạy qua các ðường làng, Diệu Liên kể lại cho anh ta nghe niềm vui của Diệu Liên trong lúc ði thiền hành. Diệu Liên khéo léo nhắc nhở anh rằng: Anh là một hạt lúa trong thửa ruộng Bồ Tát, nếu mảnh ðất 'ít người nhiều ma' nầy có thêm một vài anh Phan Ðăng Hoè nữa thì hoàn cảnh của người dân sẽ ðược thay ðổi, sự nóng bức của tham sân si sẽ bớt ði, nhường chỗ cho sự tươi mát. Hình ảnh 'Anh Hài' Hiếu cũng là một hạt lúa Bồ Tát, chưa kể ðến các em Nhiệm, Khả, Kính, Tuệ, Loan... Các em là bạn của Diệu Liên và cũng là những người thầy dạy cho Diệu Liên hiểu sâu thêm con ðường hiểu và thương, con ðường phụng sự cho tha nhân. Mặc dù phải xa Minh (Chồng D. Liên) trong thời gian làm việc tại Việt Nam, nhưng Minh và Diệu Liên luôn tìm ðược hạnh phúc bên cạnh những người bạn quý, luôn đem niềm vui và tin yêu cho mọi người. Bây giờ nhớ lại trong một bài pháp thoại, thầy Nhất Hạnh có dạy rằng: Bồ Tát không phải là những vị ở một thế giới xa vời nào ðó mà chúng ta không bao giờ sờ ðến ðược. Bồ Tát có thể là một người bên ðường, một bà cụ già, nhỏ thó, áo quần ðơn giản ðang ði trên ðường phố Paris. Nếu chúng ta không có con mắt chánh niệm thì chúng ta không bao giờ tiếp xúc ðược với họ. Tôn Nữ Diệu Liên 20 tháng 6 năm 2003 |
|
Tháng 9 năm 2002, một trận lũ quét kinh hoàng ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Nhiều xã bị thiệt hại nặng nề, nhưng ghê gớm nhất là ở xã Sơn Kim, giáp biên giới Lào; có hàng trăm ngôi nhà bị cuốn trôi, xóm 9 ở Nước Sốt biến mất không để lại dấu tích, chỉ còn một bãi đá trắng như xương người, làm cho tôi nổi gai ốc; nhiều người bị chết và hàng trăm người chịu cảnh màn trời chiếu đất! Những người dân thoát chết trong gang tấc đứng ngẩn ngơ nhìn bãi đá mà chiều qua ở đây còn là ngôi làng, họ không thể tưởng tượng nổi sức mạnh và sự tàn phá của Bố Già thiên nhiên! Khi tôi đến đây, nước lũ đã rút nhiều, cây cối, rác rưởi còn ngổn ngang; núi sạt lở, quốc lộ 8A bị trôi mất nhiều đoạn, bùn lầy đọng lại trên đường dày tới nửa mét; trâu bò, hươu bị chết nổi xác lềnh bềnh! Bà con bị trôi nhà đang che lều tá túc bên lề đường quốc lộ 8A. Có một thi thể đàn ông bị lũ cuốn trôi chưa có người nhận và 6 người bị núi lở chôn vùi dưới hàng nghìn mét khối đất chưa tìm được thi thể. Hoàng hôn xuống, tôi quay về thị trấn Tây Sơn để trú ngụ. Trời chiều se se lạnh, bên đường một ông già tóc rối, lưng còng, mặc quần đùi cởi trần, chân đi đất với vẻ mặt thất thần đứng bên đường. Hỏi thì được biết lũ đă cuốn trôi hết tất cả đồ đạc trong nhà ông. Dù vẫn còn may là nhà chưa bị mất, nhưng vẻ mặt ông ta hết sức buồn khổ. Tôi ngỏ ý muốn vào thăm, ông dẫn về căn nhà gỗ thấp nhỏ ở sát bên sông Ngàn Phố, nước đă rút, nhưng bùn đất vẫn còn dầy cỡ 2 gang tay trong nền nhà chưa được dọn. Ông già đau khổ tên Hà Ngọc Ðàm, 70 tuổi. Ðau khổ hằn sâu trên nét mặt. Cực nhọc đã tiêu hết chất mỡ trên cơ thể đến độ người ông chỉ còn da bọc xương với một chút cơ bắp héo hon. Da cằn cỗi, nhãn nheo nhưng những ngón tay thì rất to và sần sùi chứng tỏ sự lam lũ quá sức của ông! Vợ ông Ðàm là bà Loan, thua ông 6 tuổi. Bà Loan có vẻ mập, nhưng nhìn kỹ thì đúng là người bị bệnh nặng. Bà vừa nói vừa ôm ngực ho một tràng dài, bà bị bệnh thận nên phù thũng. Nước da xanh nhợt nhạt rất khó tả, nhìn không có sinh khí, suy kiệt nặng. Bà vừa nói vừa thở dốc. Bà bị đói lâu ngày và bệnh nặng nên cơ thể suy kiệt trầm trọng. Ngồi nói chuyện một chút, bà hụt hơi phải kêu con gái dìu vô nằm. Đă mấy năm nay gần như bà nằm trên giường. Tôi lại một phen kinh ngạc khi nhìn thấy cô con gái của ông Ðàm! Ðó là Hà Thị Tú, lúc đó 18 tuổi - tuổi bẻ gãy sừng trâu, nhưng sao cô bé có vẻ xanh xao và yếu mệt đến thế? Trong bóng hoàng hôn, tôi quan sát kỹ và nghĩ là Tú bị bệnh nặng. Hỏi thì Tú cho biết: ” Con bị bệnh gì mà rất mệt mỏi, luôn khó thở, nhất là khi gắng sức. Nhiều khi đi học về đói bụng và mệt con tưởng bước không nổi. Từ nhà ra đường phải leo dốc, con muốn hụt hơi, chóng mặt muốn xỉu. Không biết con có đủ sức theo học nữa không?”. Tú đang học lớp 11. Ước mơ cháy bỏng của Tú là học hết cấp 3 rồi đi học nghề kiếm việc làm để thoát khỏi cảnh khốn khó. Và Tú là niềm hy vọng lớn nhất, niềm hy vọng còn lại duy nhất của gia đình họ. Có lẽ ông bà già này còn gượng sống là bởi niềm hy vọng của họ: được tận mắt thấy tương lai của đứa con gái út sẽ khá hơn cuộc đời cơ khổ cơ hàn của cha mẹ! Sau khi hỏi Tú, tôi đoán em bị bệnh Tim. Sáng hôm sau tôi lại đến để biết rő hơn về hoàn cảnh gia đình và bệnh tật của Tú. Tôi nghĩ em bị căn bệnh hẹp van tim, gây khó thở, thiếu máu, thiếu dưỡng khí vì rối loạn tuần hoàn máu. Căn bệnh này nếu không được phẫu thuật thì Tú không sống được bao lâu nữa, và trước mắt là em sẽ không đủ sức khỏe để đi học. Từ nhà đến Trường Trung học phổ thông Cao Thắng nơi Tú học hơn 10 km, em không thể đi bộ nên người cha phải mua cho một chiếc xe đạp cũ. Nếu Tú không đi học được nữa thì gia đình họ sẽ như thế nào? Khi những con người đă chịu quá nhiều đau khổ và gần như tuyệt vọng mà niềm hy vọng cuối cùng biến mất thì họ suy sụp như thế nào và có sống nổi không? Cha mẹ Tú làm sao có tiền để đưa em đi khám bệnh và phẫu thuật? Nét mặt thơ ngây của Tú sẽ biến đổi như thế nào khi em biết mình khó mà vượt qua được căn bệnh trầm kha? |